Thứ Năm, ngày 04 tháng 06 năm 2026

Quốc phòng, an ninh, đối ngoại trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam từ nay đến năm 2045

Ngày phát hành: 04/06/2026 Lượt xem 38

                                                 

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

 

Bước vào kỷ nguyên phát triển mới, Việt Nam đứng trước yêu cầu vừa đẩy mạnh phát triển nhanh và bền vững, vừa bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa trong bối cảnh thế giới biến động sâu sắc, nhanh chóng và khó dự báo. Đại hội XIV của Đảng xác định mục tiêu đến năm 2045 đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao theo định hướng XHCN; đồng thời nhấn mạnh yêu cầu “giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ”, “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa”, “xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân vững mạnh”, “xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại, chuyên nghiệp”.

 

 

Trong thời kỳ quá độ lên CNXH, quốc phòng, an ninh và đối ngoại không chỉ là nhiệm vụ bảo vệ chế độ, bảo vệ Tổ quốc, mà còn là điều kiện tiên quyết bảo đảm môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển đất nước. Nếu trong các giai đoạn trước, quốc phòng, an ninh chủ yếu được nhìn nhận dưới góc độ bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, thì hiện nay nội hàm bảo vệ Tổ quốc đã mở rộng sang các lĩnh vực an ninh kinh tế, an ninh mạng, an ninh dữ liệu, an ninh năng lượng, an ninh văn hóa, an ninh con người và bảo vệ lợi ích chiến lược quốc gia trong không gian số và môi trường toàn cầu hóa.

 

Bối cảnh quốc tế hiện nay đang chứng kiến sự gia tăng cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn; xung đột địa chính trị, địa kinh tế và địa công nghệ diễn biến phức tạp; xu hướng quân sự hóa, chạy đua công nghệ, chiến tranh mạng, chiến tranh nhận thức và các hình thái chiến tranh phi truyền thống ngày càng gia tăng. Cùng với đó là các thách thức toàn cầu như biến đổi khí hậu, dịch bệnh, khủng bố, tội phạm xuyên quốc gia, di cư và bất ổn chuỗi cung ứng toàn cầu. Những yếu tố này tác động trực tiếp đến môi trường an ninh và phát triển của Việt Nam.

 

Trong điều kiện đó, yêu cầu đặt ra là phải nhận thức đầy đủ hơn mối quan hệ hữu cơ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại trong chiến lược phát triển đất nước. Quốc phòng mạnh phải gắn với an ninh vững chắc và đối ngoại chủ động, hiện đại; đối ngoại hiệu quả phải góp phần tạo thế chiến lược, giữ môi trường hòa bình, tranh thủ nguồn lực phát triển; an ninh quốc gia phải được bảo đảm cả trên không gian thực và không gian số. Đây chính là yêu cầu khách quan của quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới.

 

Từ thực tiễn 40 năm đổi mới có thể khẳng định, đường lối quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân và đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa đã góp phần quan trọng bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, nâng cao vị thế quốc tế của Việt Nam. Tuy nhiên, trước những biến động lớn của tình hình thế giới và khu vực, nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn mới đang đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu, bổ sung và phát triển, đặc biệt là vấn đề tự chủ chiến lược quốc gia, bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, xây dựng công nghiệp quốc phòng hiện đại, xử lý các thách thức an ninh phi truyền thống và phát triển nền ngoại giao hiện đại trong điều kiện cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn.

 

Do đó, nghiên cứu vấn đề quốc phòng, an ninh, đối ngoại trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam từ nay đến năm 2045 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần bổ sung, phát triển tư duy chiến lược của Đảng về bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới.

 

II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ QUỐC PHÒNG, AN NINH, ĐỐI NGOẠI TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CNXH

 

Quốc phòng, an ninh và đối ngoại trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam được xây dựng trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là những lĩnh vực có quan hệ mật thiết, tác động qua lại và giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

 

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, bảo vệ thành quả cách mạng và bảo vệ nhà nước XHCN là yêu cầu khách quan của thời kỳ quá độ lên CNXH. Trong điều kiện tồn tại đấu tranh giai cấp, cạnh tranh lợi ích quốc gia và những xung đột quốc tế phức tạp, một quốc gia muốn phát triển bền vững phải đồng thời xây dựng được tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh và vị thế đối ngoại đủ mạnh. Chủ nghĩa Mác - Lênin cũng khẳng định sức mạnh bảo vệ Tổ quốc không chỉ là sức mạnh quân sự mà là sức mạnh tổng hợp của chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học công nghệ và khối đoàn kết xã hội. V.I.Lênin viết: 1) Tất cả mọi lực lượng, mọi tài nguyên của đất nước đều phải dành cho công cuộc bảo vệ cách mạng. 2) Tất cả các Xô-viết và các tổ chức cách mạng có trách nhiệm phải bảo vệ từng vị trí cho đến giọt máu cuối cùng[1]. Và người khẳng định:  “Nghĩa vụ tuyệt đối của toàn thể quần chúng lao động là đem hết sức mình ra để khôi phục và tăng cường khả năng quốc phòng của đất nước”[2].

 

Tư tưởng Hồ Chí Minh kế thừa và phát triển sáng tạo quan điểm đó trong điều kiện Việt Nam. Người nhấn mạnh: “Chúng ta phải ra sức bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ hòa bình, cho nên chúng ta phải củng cố quốc phòng[3] và “Phải xây dựng các lực lượng vũ trang nhân dân hùng mạnh bao gồm bộ đội chủ lực mạnh, bộ đội địa phương mạnh, dân quân du kích vững mạnh và rộng khắp. Phải nâng cao hơn nữa chất lượng của cả ba thứ quân”[4]. Người cũng chỉ rõ “dựng nước đi đôi với giữ nước” và phải phát huy sức mạnh toàn dân, xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân; đồng thời kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Tư tưởng đối ngoại của Hồ Chí Minh thể hiện rõ tinh thần độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác nhưng kiên quyết bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc và chủ quyền đất nước.

 

Trên cơ sở vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam từng bước hoàn thiện tư duy lý luận về quốc phòng, an ninh và đối ngoại trong thời kỳ đổi mới. Qua các kỳ đại hội, nhận thức của Đảng đã phát triển từ tư duy bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện chiến tranh sang tư duy bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện hòa bình, hội nhập quốc tế và cạnh tranh chiến lược toàn cầu.

 

Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định quan điểm kiên định độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước; bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, “giữ nước từ khi nước chưa nguy”. Đây là bước phát triển mới về tư duy chiến lược, phản ánh yêu cầu chủ động phòng ngừa nguy cơ xung đột, chiến tranh và các thách thức an ninh phi truyền thống ngay từ trong thời bình.

 

Đảng xác định phải xây dựng nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân vững mạnh, hiện đại; xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh theo hướng tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại. Đồng thời, tiếp tục thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại, chuyên nghiệp.

 

Một quan điểm quan trọng được Đại hội XIV nhấn mạnh là kết hợp chặt chẽ quốc phòng, an ninh, đối ngoại với phát triển kinh tế - xã hội; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; nâng cao năng lực tự chủ chiến lược quốc gia trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt. Đây không chỉ là yêu cầu bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia mà còn là điều kiện nền tảng để Việt Nam thực hiện thành công mục tiêu phát triển đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao theo định hướng XHCN.

 

 

III. BỐI CẢNH QUỐC TẾ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI QUỐC PHÒNG, AN NINH, ĐỐI NGOẠI ĐẾN NĂM 2045

 

Từ nay đến năm 2045, môi trường quốc tế dự báo tiếp tục biến động nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo và mang tính chuyển đổi sâu sắc trên nhiều phương diện. Thế giới đang bước vào giai đoạn tái cấu trúc mạnh mẽ cả về địa chính trị, địa kinh tế, địa công nghệ và quản trị toàn cầu. Những biến đổi này vừa tạo ra cơ hội phát triển mới, vừa đặt ra nhiều thách thức chưa từng có đối với quốc phòng, an ninh và đối ngoại của Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

 

Xu hướng nổi bật nhất trong giai đoạn tới là cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn tiếp tục gia tăng và ngày càng toàn diện hơn. Quan hệ giữa các trung tâm quyền lực lớn, đặc biệt là Mỹ - Trung, sẽ tiếp tục chi phối cấu trúc an ninh và kinh tế toàn cầu. Cạnh tranh không chỉ diễn ra trong lĩnh vực quân sự mà còn mở rộng sang công nghệ, dữ liệu, chuỗi cung ứng, tài chính, năng lượng và ảnh hưởng chiến lược tại các khu vực trọng yếu, trong đó có châu Á - Thái Bình Dương và Biển Đông. Điều này khiến môi trường chiến lược của Việt Nam trở nên phức tạp hơn, đòi hỏi phải xử lý hài hòa mối quan hệ giữa giữ vững độc lập, tự chủ với mở rộng hợp tác quốc tế và hội nhập sâu rộng.

 

Cùng với đó, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đặc biệt là sự phát triển đột phá của trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, công nghệ lượng tử, công nghệ sinh học và không gian mạng sẽ làm thay đổi căn bản phương thức phát triển, mô hình quản trị quốc gia cũng như bản chất của chiến tranh và xung đột trong tương lai. Nếu trước đây chiến tranh chủ yếu diễn ra bằng xung đột quân sự trực tiếp, thì hiện nay đang xuất hiện nhiều hình thái chiến tranh mới như chiến tranh mạng, chiến tranh thông tin, chiến tranh nhận thức, chiến tranh dữ liệu, chiến tranh công nghệ cao và chiến tranh phi tiếp xúc. Không gian cạnh tranh chiến lược được mở rộng từ lãnh thổ truyền thống sang không gian mạng, không gian số, không gian vũ trụ và chuỗi dữ liệu toàn cầu. Các cuộc tấn công mạng, thao túng thông tin, phá hoại hạ tầng số và tác động tâm lý xã hội có thể gây bất ổn nghiêm trọng mà không cần sử dụng vũ lực quân sự truyền thống. Trong bối cảnh đó, quốc phòng và an ninh quốc gia không còn giới hạn ở bảo vệ biên giới lãnh thổ mà phải mở rộng sang bảo vệ chủ quyền số, chủ quyền dữ liệu và an ninh công nghệ quốc gia.

 

Bên cạnh đó, các thách thức an ninh phi truyền thống sẽ ngày càng gia tăng với quy mô lớn hơn và mức độ tác động sâu rộng hơn. Biến đổi khí hậu, thiên tai cực đoan, khủng hoảng năng lượng, dịch bệnh toàn cầu, khủng hoảng nguồn nước, già hóa dân số, di cư quốc tế và tội phạm xuyên quốc gia sẽ tiếp tục tác động trực tiếp đến ổn định chính trị, phát triển kinh tế và an ninh con người của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Đặc biệt, khu vực đồng bằng sông Cửu Long, ven biển miền Trung và các đô thị lớn của Việt Nam sẽ chịu áp lực ngày càng lớn từ nước biển dâng, biến đổi khí hậu và các vấn đề an ninh môi trường.

 

Cùng với cạnh tranh chiến lược và biến động công nghệ, hệ thống quản trị toàn cầu cũng đang đứng trước yêu cầu điều chỉnh sâu sắc. Các thiết chế quốc tế truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế trong xử lý các vấn đề toàn cầu; chủ nghĩa bảo hộ, chủ nghĩa dân túy và cạnh tranh tiêu chuẩn quốc tế gia tăng. Trong bối cảnh đó, luật chơi quốc tế có xu hướng bị chi phối mạnh hơn bởi các nước lớn và các tập đoàn công nghệ toàn cầu. Điều này đặt ra yêu cầu đối với Việt Nam không chỉ tham gia mà còn phải từng bước nâng cao năng lực đóng góp, định hình các cơ chế hợp tác và quản trị khu vực, quốc tế phù hợp với lợi ích quốc gia - dân tộc.

 

Đối với khu vực châu Á - Thái Bình Dương và Đông Nam Á, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn dự báo tiếp tục diễn ra gay gắt hơn, trong khi Biển Đông vẫn là điểm nóng tiềm ẩn nguy cơ xung đột và va chạm chiến lược. Các hoạt động quân sự hóa, tranh chấp chủ quyền, cạnh tranh ảnh hưởng và kiểm soát tuyến hàng hải chiến lược có thể tiếp tục gia tăng. Đây sẽ là một trong những thách thức an ninh trực tiếp và lâu dài đối với Việt Nam trong giai đoạn tới.

Trong bối cảnh đó, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của Việt Nam từ nay đến năm 2045 sẽ đứng trước nhiều vấn đề lớn mang tính chiến lược, thể hiện dưới dạng các mâu thuẫn cơ bản cần được nhận diện và xử lý hiệu quả.

 

Mâu thuẫn thứ nhất là giữa yêu cầu giữ vững độc lập, tự chủ chiến lược với xu thế phụ thuộc lẫn nhau ngày càng sâu sắc trong toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Việt Nam cần mở rộng hợp tác quốc tế, thu hút nguồn lực, công nghệ và thị trường từ bên ngoài để phát triển đất nước; tuy nhiên, hội nhập càng sâu rộng thì nguy cơ lệ thuộc về công nghệ, tài chính, chuỗi cung ứng, dữ liệu và an ninh kinh tế càng lớn. Điều này đòi hỏi Việt Nam phải xử lý hài hòa giữa mở cửa, hội nhập với nâng cao nội lực và năng lực tự chủ chiến lược quốc gia.

 

Mâu thuẫn thứ hai là giữa yêu cầu giữ vững môi trường hòa bình để phát triển với nguy cơ gia tăng cạnh tranh chiến lược và xung đột quốc tế. Việt Nam cần môi trường quốc tế ổn định để phát triển nhanh và bền vững, nhưng môi trường khu vực và thế giới lại tiềm ẩn nhiều yếu tố bất ổn, đặc biệt là cạnh tranh giữa các nước lớn tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương và Biển Đông. Điều này đặt ra yêu cầu phải nâng cao năng lực dự báo chiến lược, xử lý linh hoạt quan hệ đối ngoại và xây dựng thế trận quốc phòng, an ninh đủ mạnh để bảo vệ lợi ích quốc gia trong mọi tình huống.

 

Mâu thuẫn thứ ba là giữa yêu cầu phát triển nhanh dựa trên khoa học công nghệ với nguy cơ tụt hậu và phụ thuộc công nghệ trong bối cảnh cạnh tranh địa công nghệ toàn cầu. Sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo, công nghệ số và dữ liệu lớn đang tạo ra cơ hội lớn cho các quốc gia đi sau bứt phá phát triển, nhưng đồng thời cũng làm gia tăng khoảng cách công nghệ và nguy cơ bị lệ thuộc vào các nền tảng, hạ tầng và công nghệ nước ngoài. Đối với Việt Nam, nếu không nhanh chóng nâng cao năng lực công nghệ quốc gia, nguy cơ mất an ninh dữ liệu, an ninh mạng và lệ thuộc công nghệ sẽ trở thành thách thức lớn đối với quốc phòng, an ninh và chủ quyền quốc gia.

 

Mâu thuẫn thứ tư là giữa yêu cầu bảo đảm an ninh quốc gia toàn diện với sự gia tăng của các thách thức an ninh phi truyền thống. Các nguy cơ như biến đổi khí hậu, dịch bệnh, an ninh mạng, tội phạm công nghệ cao và chiến tranh thông tin có đặc điểm xuyên biên giới, khó kiểm soát và không thể xử lý bằng các phương thức an ninh truyền thống. Điều này đòi hỏi Việt Nam phải chuyển mạnh từ tư duy “an ninh truyền thống” sang “an ninh toàn diện”, kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng, an ninh, đối ngoại với khoa học công nghệ, quản trị xã hội và hợp tác quốc tế.

 

Mâu thuẫn thứ năm là giữa yêu cầu bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, giữ vững ổn định chính trị - xã hội với sự bùng nổ của không gian mạng và truyền thông số toàn cầu. Không gian mạng đang trở thành môi trường cạnh tranh chiến lược mới giữa các quốc gia và các lực lượng chính trị. Các hoạt động chiến tranh thông tin, chiến tranh nhận thức, thao túng dữ liệu và truyền thông xuyên biên giới có thể tác động trực tiếp đến tư tưởng xã hội, niềm tin chính trị và ổn định quốc gia. Vì vậy, bảo vệ an ninh tư tưởng, an ninh văn hóa và chủ quyền thông tin sẽ trở thành nhiệm vụ ngày càng quan trọng của quốc phòng, an ninh và đối ngoại Việt Nam trong thời gian tới.

 

Mâu thuẫn thứ sáu là giữa yêu cầu xây dựng lực lượng quốc phòng, an ninh hiện đại với hạn chế về nguồn lực phát triển quốc gia. Quá trình hiện đại hóa quân đội, công an, công nghiệp quốc phòng và hạ tầng an ninh mạng đòi hỏi nguồn lực tài chính, khoa học công nghệ và nhân lực chất lượng cao rất lớn, trong khi Việt Nam vẫn là nước đang phát triển và phải ưu tiên nguồn lực cho nhiều mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội khác. Do đó, cần lựa chọn đúng trọng tâm, trọng điểm và phát huy hiệu quả sức mạnh tổng hợp quốc gia trong xây dựng tiềm lực quốc phòng, an ninh và đối ngoại.

 

IV. ĐỊNH HƯỚNG CHIẾN LƯỢC QUỐC PHÒNG, AN NINH, ĐỐI NGOẠI ĐẾN NĂM 2045

 

Từ nay đến năm 2045, Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển có ý nghĩa chiến lược đặc biệt quan trọng với mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong bối cảnh thế giới tiếp tục biến động nhanh chóng, phức tạp và khó dự báo, yêu cầu đặt ra là phải xây dựng đồng bộ chiến lược quốc phòng, an ninh và đối ngoại nhằm bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.

 

Trước hết, cần tiếp tục kiên định quan điểm bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, “giữ nước từ khi nước chưa nguy”, kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong mọi chiến lược phát triển quốc gia. Đây là tư duy chiến lược xuyên suốt của Đảng trong điều kiện mới, phản ánh bước phát triển quan trọng từ tư duy “bảo vệ khi có nguy cơ chiến tranh” sang chủ động phòng ngừa, kiểm soát và xử lý các nguy cơ an ninh ngay từ gốc, từ xa và từ sớm. Điều này đòi hỏi quốc phòng, an ninh và đối ngoại phải được tích hợp trong tổng thể chiến lược phát triển đất nước, trở thành bộ phận hữu cơ của quá trình phát triển nhanh và bền vững.

 

Định hướng chiến lược quan trọng hàng đầu là xây dựng nền quốc phòng toàn dân hiện đại gắn với nền an ninh nhân dân vững mạnh. Trong bối cảnh các hình thái chiến tranh mới ngày càng phát triển theo hướng phi tiếp xúc, công nghệ cao và không gian mạng, Việt Nam cần đẩy mạnh hiện đại hóa Quân đội nhân dân và Công an nhân dân; ưu tiên phát triển các lực lượng tác chiến điện tử, an ninh mạng, phòng thủ không gian số và các lực lượng phản ứng nhanh trước các nguy cơ an ninh phi truyền thống. Đồng thời, cần phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh theo hướng tự lực, tự cường, lưỡng dụng và hiện đại, từng bước làm chủ công nghệ chiến lược, công nghệ quốc phòng lõi và các hệ thống bảo vệ chủ quyền quốc gia trong môi trường số.

 

Xuyên suốt các định hướng trên là yêu cầu nâng cao năng lực tự chủ chiến lược quốc gia. Đây là điều kiện nền tảng để Việt Nam giữ vững độc lập dân tộc và định hướng xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh toàn cầu hóa sâu rộng và cạnh tranh quốc tế ngày càng phức tạp. Tự chủ chiến lược không chỉ là tự chủ về quốc phòng, an ninh mà còn là tự chủ về kinh tế, công nghệ, năng lượng, dữ liệu và chuỗi cung ứng chiến lược. Đây sẽ là nền tảng quan trọng để Việt Nam bảo vệ vững chắc Tổ quốc và hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước đến năm 2045.

 

V. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

 

Để xây dựng nền quốc phòng, an ninh và đối ngoại đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ nay đến năm 2045, cần triển khai đồng bộ nhiều nhóm giải pháp mang tính chiến lược, vừa bảo đảm yêu cầu trước mắt, vừa tạo nền tảng lâu dài cho phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

 

Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện tư duy lý luận về bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới

 

Bối cảnh quốc tế và trong nước đang thay đổi nhanh chóng đặt ra yêu cầu phải tiếp tục bổ sung, phát triển lý luận về quốc phòng, an ninh và đối ngoại phù hợp với đặc điểm của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong điều kiện hội nhập quốc tế sâu rộng và chuyển đổi số toàn cầu. Trọng tâm là cần làm rõ hơn nội hàm của khái niệm “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa”, “tự chủ chiến lược quốc gia”, “an ninh phi truyền thống”, “an ninh dữ liệu”, “chiến tranh nhận thức”, “chiến tranh không gian mạng” và “sức mạnh tổng hợp quốc gia” trong bối cảnh mới.

 

Đồng thời, cần nhận thức đầy đủ hơn mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; giữa phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng, an ninh; giữa độc lập, tự chủ với hội nhập quốc tế; giữa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Đây không chỉ là vấn đề lý luận mà còn là cơ sở để hoạch định chiến lược phát triển quốc gia trong dài hạn.

 

Cùng với đó, cần tăng cường tổng kết thực tiễn gần 40 năm đổi mới, đặc biệt là những kinh nghiệm trong xử lý quan hệ với các nước lớn, bảo vệ chủ quyền biển đảo, ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống, cũng như thực tiễn bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng. Trên cơ sở đó, xây dựng hệ thống luận cứ khoa học phục vụ hoạch định chiến lược quốc phòng, an ninh, đối ngoại đến năm 2045, tầm nhìn đến giữa thế kỷ XXI.

 

Thứ hai, xây dựng nền quốc phòng toàn dân hiện đại gắn với phát triển kinh tế - xã hội

 

Trong giai đoạn tới, cần tiếp tục xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh theo hướng hiện đại, chủ động thích ứng với các hình thái chiến tranh mới và môi trường an ninh phi truyền thống. Trọng tâm là xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; ưu tiên hiện đại hóa một số quân chủng, lực lượng tác chiến công nghệ cao, lực lượng phòng thủ không gian mạng, tác chiến điện tử và phòng thủ vũ trụ.

 

Quốc phòng hiện đại không chỉ dựa trên sức mạnh quân sự truyền thống mà ngày càng phụ thuộc vào năng lực khoa học công nghệ, năng lực số và trình độ công nghiệp quốc phòng quốc gia. Vì vậy, cần đẩy mạnh phát triển công nghiệp quốc phòng theo hướng tự lực, tự cường, lưỡng dụng và hiện đại; thúc đẩy nghiên cứu, làm chủ các công nghệ chiến lược như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, công nghệ vệ tinh, công nghệ bán dẫn, công nghệ không người lái và an ninh mạng quân sự.

Đồng thời, cần kết hợp chặt chẽ quốc phòng với phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt tại các địa bàn chiến lược như biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa và không gian biển. Các quy hoạch phát triển vùng, phát triển hạ tầng, đô thị, logistics, năng lượng và chuyển đổi số cần được tích hợp yêu cầu quốc phòng, an ninh ngay từ đầu nhằm hình thành thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc.

 

Thứ ba, xây dựng nền an ninh nhân dân chủ động, hiện đại và thích ứng với môi trường số

 

An ninh quốc gia trong thời kỳ mới không chỉ đối mặt với các nguy cơ truyền thống mà còn chịu tác động ngày càng mạnh từ các nguy cơ phi truyền thống. Vì vậy, cần đổi mới tư duy bảo đảm an ninh theo hướng chủ động phòng ngừa, phát hiện và xử lý nguy cơ từ sớm, từ xa; lấy ổn định xã hội, an ninh con người và an ninh phát triển làm nền tảng.

 

Trọng tâm hiện nay là tăng cường năng lực bảo vệ an ninh mạng, an ninh dữ liệu và chủ quyền số quốc gia. Việt Nam cần xây dựng hệ sinh thái an ninh mạng quốc gia đồng bộ, đủ năng lực phòng chống tấn công mạng quy mô lớn, bảo vệ hệ thống dữ liệu chiến lược, hạ tầng số quốc gia và các nền tảng điều hành trọng yếu. Đồng thời, cần nâng cao năng lực đấu tranh với chiến tranh thông tin, chiến tranh tâm lý, chiến tranh nhận thức và các hoạt động chống phá trên không gian mạng.

 

Cùng với đó, phải chú trọng xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc. Trong mọi thời kỳ, nhân dân luôn là nền tảng sức mạnh của quốc phòng và an ninh quốc gia. Vì vậy, cần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; giải quyết hài hòa các vấn đề xã hội; củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Đây chính là nhân tố quyết định để giữ vững ổn định chính trị và tăng cường sức đề kháng xã hội trước các nguy cơ bất ổn từ bên ngoài.

 

Thứ tư, xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại, phục vụ phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc

 

Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, đối ngoại cần tiếp tục khẳng định vai trò là lực lượng tiên phong trong giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và mở rộng không gian phát triển cho đất nước.

 

Việt Nam cần kiên trì thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng. Đồng thời, phải nâng cao năng lực xử lý các vấn đề chiến lược, nhất là quan hệ với các nước lớn, vấn đề Biển Đông, an ninh nguồn nước, an ninh năng lượng và cạnh tranh công nghệ toàn cầu.

 

Đối ngoại trong giai đoạn mới cần chuyển mạnh từ “tham gia” sang “chủ động đóng góp, định hình luật chơi và cơ chế hợp tác quốc tế”. Việt Nam cần tham gia sâu hơn vào các cơ chế quản trị toàn cầu, các hiệp định thương mại thế hệ mới, các sáng kiến về chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và an ninh khu vực.

 

Đồng thời, cần phát triển mạnh ngoại giao kinh tế, ngoại giao khoa học công nghệ, ngoại giao số và ngoại giao văn hóa. Ngoại giao không chỉ phục vụ bảo vệ chủ quyền mà còn phải góp phần thu hút nguồn lực phát triển, tiếp cận công nghệ tiên tiến, mở rộng thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và lan tỏa sức mạnh mềm Việt Nam trên trường quốc tế.

 

Thứ năm, nâng cao năng lực tự chủ chiến lược quốc gia trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng

 

Một trong những yêu cầu cốt lõi của bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn tới là phải nâng cao năng lực tự chủ chiến lược quốc gia. Đây không chỉ là vấn đề quân sự hay quốc phòng mà còn bao gồm tự chủ kinh tế, tự chủ công nghệ, tự chủ năng lượng, tự chủ dữ liệu và tự chủ chuỗi cung ứng chiến lược.

 

Việt Nam cần xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng; phát triển mạnh doanh nghiệp dân tộc; làm chủ các công nghệ nền tảng; nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế trước các cú sốc bên ngoài. Trong bối cảnh cạnh tranh công nghệ và địa kinh tế ngày càng gay gắt, quốc gia nào phụ thuộc lớn vào công nghệ, dữ liệu và chuỗi cung ứng bên ngoài sẽ dễ bị tổn thương về an ninh và phát triển.

 

Do đó, cần ưu tiên phát triển các ngành công nghệ chiến lược như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ lượng tử, an ninh mạng, năng lượng tái tạo và công nghệ quốc phòng. Đồng thời, phải xây dựng năng lực dự báo chiến lược quốc gia, nâng cao khả năng phân tích xu hướng địa chính trị, địa kinh tế và địa công nghệ để chủ động ứng phó với các biến động quốc tế.

 

Thứ sáu, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho quốc phòng, an ninh và đối ngoại

 

Con người là nhân tố quyết định trong xây dựng tiềm lực quốc phòng, an ninh và đối ngoại quốc gia. Vì vậy, cần có chiến lược phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới, đặc biệt là đội ngũ chuyên gia về công nghệ quốc phòng, an ninh mạng, trí tuệ nhân tạo, luật pháp quốc tế, ngoại giao số và nghiên cứu chiến lược.

 

Cần đổi mới mạnh mẽ công tác đào tạo trong các học viện, nhà trường quân đội, công an và ngoại giao theo hướng hiện đại, liên ngành, hội nhập quốc tế và gắn với thực tiễn chuyển đổi số. Đồng thời, cần hình thành các trung tâm nghiên cứu chiến lược mạnh có khả năng dự báo và tham mưu chính sách tầm quốc gia.

 

Bên cạnh đó, phải chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, tư duy chiến lược, năng lực hội nhập quốc tế và khả năng thích ứng với môi trường công nghệ mới. Đây sẽ là lực lượng nòng cốt góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc và nâng cao vị thế Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới.

*

*   *

Từ nay đến năm 2045, Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển có ý nghĩa chiến lược đặc biệt quan trọng. Trong bối cảnh thế giới biến động nhanh chóng, phức tạp và khó dự báo, quốc phòng, an ninh và đối ngoại tiếp tục giữ vai trò trọng yếu, thường xuyên trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đại hội XIV của Đảng đã thể hiện bước phát triển mới trong tư duy chiến lược khi nhấn mạnh yêu cầu kết hợp chặt chẽ giữa phát triển và bảo vệ tổ quốc; giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại; giữa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; giữa tự chủ chiến lược và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, hiệu quả. Trong thời kỳ quá độ lên CNXH, bảo vệ tổ quốc không chỉ là bảo vệ chủ quyền lãnh thổ mà còn là bảo vệ môi trường hòa bình, bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ không gian phát triển và bảo vệ tương lại phát triển đất nước. Xây dựng nền quốc phòng toàn dân hiện đại, nền an ninh nhân dân vững mạnh và nền ngoại giao toàn diện, hiện đại sẽ là những trụ cột chiến lược để Việt Nam giữ vững ổn định chính trị, nâng cao năng lực tự chủ chiến lược quốc gia và hiện thực hóa mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao theo định hướng XHCN vào năm 2045.

 

                                                                                                                           PGS, TS. Vũ Văn Hà, Ban thư ký HĐLLTƯ

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026

2. Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương- Hội Đồng Lý luận Trung ương, Tài liệu nghiên cứu về những điểm mới, nội dung cốt lõi trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026

3. Nguyễn Văn Sáu: Thành tựu nổi bật trong lĩnh vực quân sự - quốc phòng qua 40 năm đổi mới đất nước, https://www.qdnd.vn/, ngày 17/2/2026

4. Trần Thái Bình: Xây dựng Quân đội Nhân dân Việt Nam hiện đại trong giai đoạn cách mạng mới, https://tapchiqptd.vn/, ngày 11/12/2025

5. Nguyễn Vĩnh Thắng: Quốc phòng, an ninh trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb chính trị quốc gia Sự thất, Hà Nội, 2010.

 



[1] V.I.Lênin: Toàn tập. Nxb  Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2006, t 35, tr.435

[2] V.I. Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, M. 1978, t36, tr. 153

[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 9, tr. 226

[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, sdd, t15, tr.314          

Tin Liên quan

Góp ý về nội dung bài viết