Chủ Nhật, ngày 04 tháng 12 năm 2022

Văn hóa gia đình - một giá trị cốt lõi của văn hóa và con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế

Ngày phát hành: 27/08/2018 Lượt xem 30396

Văn hóa là con người có thể coi đó là định nghĩa bao quát nhất. Bởi vì khái niệm khởi nguồn của văn hóa mà chúng ta hiểu theo nghĩa rộng nhất đến nay bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp cổ đại là cultus: gieo trồng, trồng cấy- tức là có bàn tay của con người tác động vào một sự vật, hiện tượng bất kỳ làm nó thay đổi và cái đó gọi là văn hóa. Như vậy, ngoài những cái sẵn có trong tự nhiên, thì mọi thứ đều do con người tạo ra, nên hiểu nghĩa con người là văn hóa ở nghĩa bao quát nhất là như vậy. Điều đó cũng chỉ ra một điều, cái mà con người tạo ra không phải lúc nào cũng là cái tốt lấy thí dụ như một số phong tục, tập quán, tín ngưỡng mà đến một giai đọan nào đó không phù hợp, hay có thể sản phẩm được tạo ra là rất tốt nhưng lại gây hại cho người khác hay phá hủy môi trường ví như việc tạo ra những loại vũ khí hạt nhân, nếu chúng rơi vào tay những kẻ khủng bố hoặc gặp sự cố thì có thể gây thảm họa co con người và môi trường. Nói như vậy để thấy cái gọi là văn hóa ở nghĩa rộng đó có văn hóa tốt và có văn hóa không tốt, hay người ta thường gọi là phản văn hóa. Tuy vậy nếu xác định văn hóa là do con người tạo ra thì vẫn phải công nhận rằng đó vẫn thuộc trong khái niệm văn hóa. Nếu hiểu như vậy, chúng ta sẽ thấy một cách biện chứng hơn và thấy rằng văn hóa nằm trong mọi khía cạnh của cuộc sống, vì đó là cuộc sống của con người. Từ trước đến nay, chúng ta thường chỉ quan tâm đến phần thứ nhất của định nghĩa về văn hóa tức là chỉ quan tâm đến những cái hay cái đẹp của hiện tượng, một phần xuất phát từ thuật ngữ văn hóa từ chữ Hán (văn là nét đẹp, hóa là giáo hóa), hay từ quan điểm văn hóa chỉ là cái hay cái đẹp, cái cao cả, cái nhân văn, hướng thiện của văn hóa. Điều này không sai, nhưng chưa đủ và chính vì sự chưa đủ đó mà ta thường bỏ qua những mặt trái của văn hóa, chưa tìm hiểu nó để mà tránh, nên nhiều vấn đề xảy ra hiện nay chúng ta không giải thích được một cách đầy đủ và từ đó chưa thấy hết được vai trò của văn hóa như một mục tiêu, động lực của sự phát triển. Và nếu hiểu văn hóa với nghĩa đầy đủ như vậy thì chúng ta sẽ thấy văn hóa chính là yếu tố quyết định trong sự phát triển của mọi dân tộc như ý kiến của một tác giả. (Trương Quang Đệ, 2018).
Về nội hàm của khái niệm văn hóa chúng ta đã có rất nhiều các ý kiến khác nhau từ mỗi góc độ tiếp cận của các tác giả quốc tế và trong nước (Xem: Văn hóa học (2001), Đào Duy Anh (2000), Đoàn Văn Chúc (1997), Phan Ngọc (1994, 2005) Trần Quốc Vượng (2000), Phạm Xuân Nam (2000), Trần Ngọc Thêm (1997, 2016). Mỗi một định nghĩa của tất cả các nhà nghiên cứu đều đưa ra những thành tố khác nhau, song chung quy cũng đều hướng đến những sản phẩm mà con người tạo ra trong quá trình sống của mình. Tất cả các thành tố đó tạo nên các giá trị văn hóa của mỗi dân tộc, và như ý kiến trên thì nó quyết định sự phát triển của mọi dân tộc đó. Việt Nam chúng ta cũng vậy, có thể nói điều đã được khẳng định trong lịch sử hang ngàn năm của chúng ta tồn tại và phát triển được là nhờ có một nền văn hóa Việt Nam. Có một cách hiểu khái quát về văn hóa Việt Nam chúng ta, như ý kiến của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng gồm ba trụ cột đó là văn hóa gia đình, văn hóa làng và văn hóa nước. Như vậy, văn hóa gia đình là một giá trị cốt lõi của văn hóa Việt Nam, nhất là khi nó lại là khởi nguồn sinh ra con người, nuôi dưỡng con người đó từ thuở lọt long đến khi trưởng thành. Sự trưởng thành đó có bền vững hay không đều xuất phát căn bản từ những bước khởi đầu trong gia đình. Nói như Chủ tịch Hồ Chí Minh thì hạt nhân của xã hội là gia đình, gia đình tốt thì xã hội mới tốt. Hay như Phan Bội Châu “Nước là một cái nhà lớn, nhà là một cái nước nhỏ”. Nền tảng của văn hóa Việt Nam cũng được dựa trên văn hóa gia đình, văn hóa làng rồi mới đến văn hóa của cả nước. Tất cả những điều đó càng chứng minh giá trị cốt lõi của văn hóa gia đình trong văn hóa Việt Nam, điều mà chúng tôi muốn bàn đến ở đây. 
Giống như chức năng của gia đình là duy trì nòi giống, chức năng kinh tế, chức năng thỏa mãn các nhu cầu tình cảm và chức năng nuôi dưỡng, giáo dục, rèn luyện của mỗi thành viên trong gia đình, thì văn hóa gia đình theo nghĩa rộng cũng xuất phát từ những chức năng đó. Vậy xác định nội hàm của văn hóa gia đình thế nào? Nói ngắn gọn theo như Từ điển Tiếng việt của Đào Duy Anh là “thói nhà, tập quán giáo dục trong gia tộc”. Hay theo một định nghĩa xã hội học: “Văn hóa gia đình là hệ thống những giá trị, chuẩn mực khu biệt đặc thù điều tiết mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình và mối quan hệ giữa gia đình với xã hội, phản ánh bản chất của các hình thái gia đình đặc trưng cho các cộng đồng, các tộc người, các dân tộc và các khu vực khác nhau được hình thành và phát triển qua lịch sử lâu dài của đời sống gia đình, gắn liền với những điều kiện phát triển kinh tế, môi trường tự nhiên và xã hội”(Lê Ngọc Văn, 2011). Còn các tác giả khác từ những góc tiếp cận khác nhau cũng đưa ra định nghĩa văn hóa gia đình theo ý kiến riêng  của mình (xem Tạ Văn Thành, 1997; Lê Minh, 1997; Vũ Ngọc Khánh, 1998;  Lê Như Hoa, 2001….) 
Tham luận này không phải để bàn sâu thế nào là văn hóa gia đình và các quan điểm định nghĩa về nó vì điều này cũng đã khá rõ ràng. Quan điểm cá nhân của chúng tôi cho tham luận này nhìn nhận “Văn hóa gia đình là những thực hành hàng ngày của các thành viên trong gia đình nhằm củng cố và phát triển các mối quan hệ tình cảm, đạo đức tạo nên một gia đình bền vững”.Trong khuôn khổ của một tham luận, chúng tôi chỉ dừng lại ở một số thực hành đó của văn hóa gia đình, đó là những thực hành trong việc nuôi dưỡng, giáo dục con cái. Đó là việc nuôi dạy con cái để chúng có kỹ năng sống, làm các công việc trong gia đình (nữ công gia chánh) và chuẩn bị cho chúng bước ra ngoài xã hội, dạy dỗ việc ứng xử với cha mẹ, anh chị em trong gia đình, bà con trong dòng họ và ứng xử ngoài xã hội, mối quan hệ của con cái đối với họ hàng hai bên và cộng đồng làng xóm xung quanh… Với những thực hành văn hóa này tại mỗi gia đình sẽ tạo ra những con người có nhân cách, có tình cảm, sự nhường nhịn, lễ phép, kính trên nhường dưới, có lòng bao dung và tình yêu con người … Như trên đã viết, gia đình là nơi đầu tiên của mỗi con người khi sinh ra, nó được nuôi dưỡng từ khi thai nghén đến lúc trưởng thành bước ra cuộc đời. Do đó mọi sự dạy dỗ ở đây thật sự là nền tảng, là bệ đỡ, là cơ sở để con người có thể vững vàng bước ra cuộc sống. Bởi vậy nói gia đình là hạt nhân của xã hội, là tế bào của xã hội và hạt nhân ấy, tế bào ấy có mạnh khỏe, có lành mạnh thì xã hội mới lành mạnh.Điều này càng khẳng định văn hóa gia đình là một giá trị cốt lõi của văn hóa Việt Nam.
Trong những thành tố của văn hóa gia đình thì những thực hành hàng ngày trong việc dạy dỗ con cái theo chúng tôi là hết sức quan trọng của văn hóa gia đình mà lâu nay có phần nào chưa được chú ý một cách đầy đủ, do đó dẫn đến những hệ quả mà đến nay chúng ta phải gánh chịu.
Thật vậy, những năm gần đây, báo chí và các phương tiện thông tin đại chúng liên tục đưa tin các vụ việc liên quan đến sự xuống cấp về đạo đức xã hội như chuyện học trò đánh cô giáo, bạo lực học đường, sát thủ máu lạnh là thanh niên mới lớn, thậm chí còn ở tuổi vị thành niên, con cái đối xử tệ bạc với cha mẹ, anh em đánh nhau, vợ chồng bất hòa gây án mạng v.v và v.v… Chỉ lấy ví dụ gần đây nhất vụ án giết cả gia đình ở thành phố Hồ Chí Minh đúng trong dịp tết Nguyên Đán Mậu Tuất đã thấy mức độ nghiêm trọng của nó. Chuyện anh em đánh nhau vì tranh giành của cải, con cái đuổi bố mẹ ra khỏi nhà, đối xử tàn tệ với bố mẹ hay nhiều hiện tượng sa sút đạo đức thấy phổ biến trong xã hội đã được nhiều người nói đến như một sự xuống cấp của đạo đức xã hội. Người ta đổ cho vấn đề kinh tế thị trường, toàn cầu hóa và ảnh hưởng của văn hóa phương Tây với những phim ảnh bạo lực từ nước ngoài… Điều mà từ những năm 30 của thế kỷ trước học giả Đào Duy Anh đã nói đến: “Cái bi kịch hiện thời của dân tộc ta là sự xung đột của những giá trị cổ truyền của văn hóa cũ ấy với những điều mới lạ của văn hóa Tây phương. Cuộc xung đột sẽ giải quyết thế nào, đó là một vấn đề quan hệ đến cuộc sinh tử tồn vong của dân tộc vậy.”(Đào Duy Anh, 2000). Trước đây, chính trong hoàn cảnh đó văn hóa Việt Nam lại trỗi dậy và chống lại những ảnh hưởng của văn hóa Tây phương để chúng ta có được hai cuộc kháng chiến thần thánh chống Pháp và chống Mỹ. Còn ngày nay, hình như chúng ta đang lúng túng trước vấn đề này. Để tìm hiểu ngọn nguồn của tất cả các hiện tượng đó không phải là dễ và có thể làm trong ngày một ngày hai.Tuy nhiên, phải thừa nhận là kết quả của ngày hôm nay có nguyên nhân được tích tụ trong một thời gian dài từ sau Cách mạng thành công và từ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháo đến nay. Có thể khái quát ở một số điểm như sau:
Thứ nhất, công cuộc kháng chiến chống Pháp thần kỳ của người Việt từ nô lệ vươn lên đánh đuổi một đế quốc lớn mạnh hơn chúng ta rất nhiều lần về mọi mặt nên cả dân tộc đã phải gồng mình lên để dành chiến thắng. Thời gian ấy, do nhiều lý do, nên điều kiện cho việc củng cố văn hóa trong đó có văn hóa gia đình không được quan tâm đến. Từ tiêu thổ kháng chiến với việc đình chùa, đền miếu và các di tích văn hóa bị phá hủy, các cuộc chỉnh huấn, chỉnh quân trong quân đội, cải cách ruộng đất, phong trào chống phong kiến đã có ảnh hưởng không nhỏ đến các giá trị văn hóa nói chung, các thực hành của văn hóa gia đình nói riêng .
Thứ hai, sau khi miền Bắc giải phóng đất nước đi vào việc xây dựng hòa bình trong tình trạng còn nửa nước đang có chiến tranh nên phải tập trung sức lực để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Cả nước luôn ở trong tư thế thời chiến nên mọi chuyện gia đình, riêng tư đều được gác lại và mọi chuyện thuộc gia đình, thuộc đời sống cá nhân con người đều hướng tới một mục đích “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả vì miền Nam ruột thịt”. Mọi chuyện gia đình, cá nhân là chuyện nhỏ trước cuộc kháng chiến vĩ đại của đất nước. Đương nhiên, trong môi trường mỗi gia đình, những thực hành văn hóa vẫn diễn ra nhưng trong bối cảnh chung của cả nước thì cái chung vẫn là cái được đặt lên hàng đầu.
Thứ ba, trong thời gian sau hòa bình năm 1954 hướng theo nền văn hóa mới xã hội chủ nghĩa từ Liên Xô, vấn đề cá nhân, gia đình lại càng bị hạn chế bởi vai trò tập thể được đề cao, hợp tác xã, sản xuất lớn, xóa bỏ tư hữu, đề cao công hữu, tiến tới sản xuất lớn. Đặc biệt là cuộc cách mạng văn hóa tiếp tục được đẩy mạnh với việc chống mê tín dị đoan, hạn chế tôn giáo, là những tác động to lớn vào tư tưởng của cả người lãnh đạo đến người dân bình thường.
Thứ tư, bên cạnh những vấn đề về hệ tư tưởng, về tâm linh kể trên thì sự xáo trộn xã hội trong hai cuộc kháng chiến cùng với việc ảnh hưởng của giáo điều, máy móc như dân chủ, bình đẳng thái quá tạo nên những thách thức với truyền thống tôn ty trật tự trong gia đình, dòng họ, tôn sư trọng đạo trong nhà trường. 
Thứ năm, cũng là tiếp thu văn hóa mới một cách máy móc, mà việc đề cao quần chúng một cách thái quá, coi trọng văn hóa quần chúng theo kiểu tập thể, đồng loạt như nhau nên đã có sự gò ép tính đa dạng, sáng tạo cá nhân vào những khuôn mẫu làm mất đi không ít các giá trị văn hóa dân gian của các dân tộc bằng cách áp đặt khuôn mẫu của văn hóa phương tây vào nó. Chẳng hạn như ý kiến của nhà nghiên cứu âm nhạc dân gian Tô Ngọc Thanh nói về việc các nhà sưu tầm người Kinh khi lên miền núi sưu tầm âm nhạc dân gian các dân tộc đều hướng đến việc dùng khuông nhạc bảy nốt phương Tây để ghi chép nhạc dân gian của đồng bào nên tất cả đề phải gì theo khuông nhạc đó. Vai trò cá nhân, nghệ nhân bi lu mờ, chìm xuống trước cái tập thể, quần chúng.
Thứ sáu, sau giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước một mặt, đã có lúc quá lạc quan mà bất chấp những quy luật phát triển. Cộng với việc ngay sau chiến thắng đất nước lại bước vào các cuộc chiến tranh biên giới kéo dài, cấm vận của phương Tây nên khi kinh tế thị trường ào ạt vào nước ta thì cả kinh tế và văn hóa đều rơi vào tình trạng chông chênh. Hơn thế, do mong muốn phát triển nhanh chóng để đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, tụt hậu nên chúng ta đã phát triển kinh tế bằng mọi giá, để đến nay khi kinh tế tạm có thể gọi là ổn định thì một loạt những vấn đề văn hóa mới bắt đầu nảy sinh như ta thấy.
Tất cả những điều kể trên có thể nói là một sự tác động âm ỉ, lâu dài đến văn hóa gia đình của người Việt Nam trong suốt giai đoạn lịch sử vừa qua, và chính nó là những tác nhân không nhỏ đến sự xuống cấp của văn hóa toàn xã hội Việt nam nói chung. 
Trong khi đó, với phương pháp dạy dỗ, giáo dục con cái truyền thống đòi hỏi ở mỗi gia đình là những thực hành cụ thể sau đây:
1- Dạy dỗ con cái qua các thực hành nghi lễ gia đình
Các nghi lễ gia đình nổi bật nhất đó là ngày giỗ, tết và cưới xin, ma chay.Vào những dịp này là lúc cha mẹ, anh em, bà con họ hàng gặp gỡ sum họp gia đình cũng nhau chia sẻ những tình cảm cá nhân với nhau để tạo nên mối quan hệ bền chặt hơn. Bằng việc tham gia vào những nghi lễ này trước hết là sự gắn bó tình cảm giữa các thành viên trong gia đình nhất là khi con cái đi làm ăn xa hoặc đã xây dựng gia đình ra ở riêng có thể không gần bố mẹ. Đây là dịp anh em, con cái chia sẻ những tình cảm, những kinh nghiệm trong cuộc sống mà mình từng trải từ người này cho người khác. Hòa giải những xích mích (nếu có) trong quá trình sống giữa anh em, dâu, rể. Bằng vào việc tham gia cùng nhau vào những nghi lễ này, trước bàn thờ tổ tiên hay trước việc cùng tham gia chia sẻ nỗi đau chung khi bị mất mát người thân, người ta dễ đồng cảm với nhau, bỏ qua cho nhau những điều mà trước đó tưởng như là to tát, căng thẳng. Dịp gặp gỡ này, thông qua các công việc như nấu nướng, bày biện, sắp đặt, trang trí hay chuẩn bị các công việc liên quan khác, người ta có dịp trò chuyện, tâm sự, giãi bày những khúc mắc trong quá khứ để có được sự đồng cảm, cảm thông với nhau, tạo nên sự gắn kết bền chặt hơn. Như người ta nói, đám giỗ, đám ma không chỉ vì người chết, mà chủ yếu là vì người sống, những đau buồn được an ủi, sẻ chia, những bất hòa được giải tỏa, người chết là cái cớ để gắn kết những người sống, tạo cho người sống hiểu được giá trị của gia đình, ruột thịt… Đây cũng là dịp để anh em, bà con nhận biết nhau thứ bậc trên dưới, tránh việc như dân gian thường nói “đánh nhau vỡ đầu mới nhận ra anh em”.Nhất là những người sống xa gia đình lâu ngày, ít có dịp tụ họp thì đây là lúc các con cái họ nhận biết anh em họ hàng, cô bác, chú dì bên nội bên ngoại. Điều này càng rõ ràng trong bối cảnh hiện nay, khi mà do cuộc sống mưu sinh con người đi làm ăn ở khắp nơi không mấy khi có dịp đưa vợ chồng con cái về gia đình gặp gỡ những người thân thuộc. Những sự kiện giỗ, tết, cưới xin, ma chay là dịp để những thực hành văn hóa này có điều kiện phát huy tác dụng dạy dỗ cho các thế hệ con cái trong gia đình bằng những việc làm cụ thể, trực tiếp mà không phải bằng những lời giáo giáo huấn suông.
Khi thực hành các nghi lễ tâm linh, một mặt tạo cho thế hệ trẻ nhớ đến công ơn của tổ tiên, ông bà đã khuất, mặt khác sự linh thiêng khi ăn sâu vào suy nghĩ của lớp trẻ sẽ trở thành một sức mạnh ngăn cản họ trước những quyết định làm một việc sai trái. Bởi vì, khi con người ta biết sợ, ắt sẽ chùn bước trước những hành động xấu mà họ định làm, còn khi họ không có gì để sợ thì không có việc gì mà họ không dám làm. Ở đây, khi có được niềm tin linh thiêng, nó sẽ giúp con người đắn đo trước khi hành động, khi đó họ nghĩ việc họ làm có thể không là gì đối với bản thân, nên không quan tâm, song nếu họ nghĩ mình làm việc này là có tội với tổ tiên, với thần linh, đặc biệt là hậu quả sau việc làm của họ thì bố mẹ, anh chị em, họ hàng sẽ suốt đời mang tiếng, xấu hổ với thiên hạ rằng gia đình có một người con như thế. Khi đó, chắc chắn nó sẽ phải chùn tay hay suy nghĩ trước hành động mình sắp làm, và như vậy có thể hạn chế hay kìm hãm những hành động thiếu suy nghĩ của con người.
2- Tấm gương cha mẹ
Cha mẹ là hình ảnh, là tấm gương cụ thể đầu tiên cho con cái trong môi trường nhỏ của xã hội đó là gia đình.Dù dân gian có câu “Cha mẹ sinh con, trời sinh tính” song cái tính trời sinh ấy cũng vẫn có một phần từ tấm gương của cha mẹ.Tất cả những việc làm, cách ứng xử, lối sống, việc đối nhân xử thế của cha mẹ đều là những hình ảnh trực quan sinh động cho con cái.Đặc biệt, khi tuổi trẻ còn non nớt thì những hình ảnh đó luôn luôn khắc sâu vào tâm trí những đứa trẻ và được lưu giữ trong đầu nó rất lâu, thậm chí ám ảnh cả đời chúng. Thực tế cho thấy những vụ phạm pháp của trẻ vị thành niên đều có sự góp phần không nhỏ của hoàn cảnh gia đình như bố mẹ bỏ nhau, bạo lực gia đình, làm ăn phi pháp hoặc những tấm gương xấu mà bố mẹ gieo vào tâm hồn đứa trẻ từ khi còn nhỏ. Những thái độ ứng xử của cha mẹ đối với ông bà, họ hàng hằng ngày có tác động mạnh mẽ vào con cái và sẽ là nguồn nuôi dưỡng và hình thành tính cách cho nó khi lớn lên.Tương tự như vậy là những ứng xử của cha mẹ với hàng xóm láng giềng, xã hội xung quanh. Lối sống hàng ngày của cha mẹ cũng sẽ là tấm gương đạo đức cho con cái noi theo như một hệ quả của sự thực hành giáo dục cho thế hệ trẻ. Sự tôn trọng ông bà, sự kính trên nhường dưới, sự yêu quý anh chị em  ruột trong gia đình của người cha, người mẹ luôn là một tấm gương tốt cho con cái học tập và làm theo.Để rồi những đức tính đó được đứa trẻ đem ra thực hành ở ngoài đời.
Thái độ đối với con cái trong những công việc gia đình, sự phân công hợp lý công việc, thái độ đối với lỗi của trẻ, sự công bằng trong việc giải quyết những việc nhỏ nhặt hàng ngày sẽ là những tác động đến hình thành tính cách của con cái cũng như cách xử lý của chúng trong tương lai. Sự hy sinh cho con cái, chăm chút từ miếng cơm manh áo, giấc ngủ và đặc biệt là việc học hành của con cái, hầu hết các ông bố bà mẹ dù có khó khăn đến đâu thì ai cũng muốn tạo điều kiện tốt nhất cho con cái được học hành. Đây là một phẩm chất cao đẹp của tất cả các gia đình Việt Nam chúng ta từ trước đến nay. Ngược lại, đứa trẻ bị đánh đập, chửi mắng, đay nghiến, hành hạ trong gia đình, thì khi ra ngoài xã hội nó sẽ mang lỗi hận ấy gieo rắc lên những người khác.
3- Bữa cơm gia đình và những sinh hoạt hàng ngày
Đây là một môi trường văn hóa được các gia đình Việt Nam xưa sử dụng một cách triệt để trong việc dạy dỗ con cái. Đó thật sự là một cách “cầm tay chỉ việc” trong từng hoạt động thực hành tỉ mỉ chi tiết. Từ việc “ăn trông nồi ngồi trông hướng” đến những phép tắc gia đình trong việc ăn uống được thể hiện ở đây. Bằng những công việc cụ thể trong cuộc sống hàng ngày của gia đình, người làm cha làm mẹ dạy dỗ con cái những kĩ năng sống, cách sắp xếp tổ chức công việc, đời sống, tổ chức trong gia đình. Bằng bữa cơm gia đình, lớp trẻ học được kĩ năng làm bếp, những việc nữ công gia chánh đối với con gái, những việc việc gia đình, bếp núc, hỗ trợ những việc nặng của con trai. Điều quan trọng hơn nữa đó là bữa cơm gia đình như một diễn đàn hay một lớp học nhỏ để cha mẹ có dịp dạy dỗ con từ chuyện nhà đến chuyện xã hội. Quanh bữa cơm con cái nói chuyện học hành, chơi bời với bạn bè trong lớp, ngoài đời, một mặt bố mẹ hiểu biết được con cái, được bạn bè của con, mặt khác họ còn có thể góp ý cho con những cách thức ứng xử trước từng công việc, những khúc mắc, vấp ngã xảy ra đối với con cái. Họ chia sẻ những kinh nghiệm cho con cái, an ủi, khuyên bảo những điều hay lẽ phải cho con vừa tạo nên sự gần gũi vừa như những bài học kinh nghiệm được truyền dạy một cách tự nhiên, nhẹ nhàng mà thấm sâu vào con cái hơn bất cứ một cách giáo dục trường lớp hay những bài giảng lý thuyết nào. Bằng việc kể những câu chuyện trong bữa ăn về những người, những việc xảy ra xung quanh họ hàng ngày, một mặt họ truyền cho con cái cách hiểu biết, ứng xử với nó khi gặp phải, mặt khác là sự khuyến khích hay cảnh báo trước những việc tốt hay không tốt để noi theo hoặc né tránh….Còn trong từng công việc diễn ra trong sinh hoạt hàng ngày của gia đình, cha mẹ có dịp hướng dẫn một cách cụ thể, trực tiếp mỗi công việc, mỗi cách ứng xử cần phải làm, phải xử lý các tình huống diễn ra sao để chúng có thể học hỏi và ứng tác ngay khi có thể.
Những việc yêu thương, chăm sóc ông bà, thăm hỏi ông bà, chú bác, cô dì, anh em họ hàng những lúc ốm đau, trắc trở, tai nạn, những chuyện vui buồn xảy ra… tất cả những thực hành đó tạo trong lòng con trẻ những tình cảm, sự cảm thông, tình yêu thương có tác dụng nuôi dạy trong chúng tính nhân văn trong cách đối nhân xử thế sau này một cách sâu sắc. Sự nhường nhịn đối với anh chị em trong nhà nếu được nuôi dạy từ lúc trẻ sẽ tạo nên lòng bao dung, lòng vị tha, thương người cho mỗi đứa trẻ khi lớn lên và bước vào cuộc đời.
Nhìn chung, liên quan đến những thực hành dạy dỗ con cái trong văn hóa gia đình còn có thể chỉ ra nhiều vấn đề khác nữa. Tuy nhiên, thiết nghĩ những điều kể trên đã cho thấy khá đầy đủ những thực hành văn hóa liên quan chứng minh cho giá trị của văn hóa gia đình như một giá trị cốt lõi của giá trị văn hóa Việt Nam truyền thống cũng như hiện đại. Nếu soi vào các thực hành văn hóa trong việc dạy dỗ con cái của chúng ta trong thời gian qua cho thấy những điều bất cập đã nêu trên đều có nguyên nhân xuất phát từ vấn đề dạy dỗ con cái trong gia đình, nên xã hội mới xảy ra nhiều chuyện không vui (nếu không nói là đau lòng) như vậy. Muốn để cho xã hội ngày càng tốt đẹp hơn, nhân văn hơn, bao dung hơn thì việc khai thác và phát huy các giá trị của văn hóa gia đình trên đây cần được coi trọng và nâng cao hơn nữa trong thời gian tới.   
Để kết luận cho vấn đề này, chúng tôi xin lấy câu danh ngôn về gia đình George Santayana: “Gia đình là một kiệt tác của tạo hóa” (The family is a nature masterpiece). Muốn để cho kiệt tác đó luôn luôn là kiệt tác trong hiện thực, thì việc bảo đảm và nâng cao vai trò của văn hóa gia đình là một việc làm cần thiết phải được duy trì trong thời gian tới. Nhất là trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, nếu phát huy được các giá trị văn hóa này thì chúng ta sẽ có thể vững vàng bước vào cuộc hội nhập với một bản lĩnh vững vàng, mà vẫn giữ được bản sắc riêng của đất nước, với một nền văn hóa tiên tiến, mà vẫn đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam./.



GS.TS. Lê Hồng Lý
Viện Nghiên cứu văn hóa, Viện Hàn lâm KHXHVN



Tài liệu tham khảo
1. Đào Duy Anh. Việt Nam văn hóa sử cương (Tái bản 2000), Nxb. VHTT, H.2000.
2. Toan Ánh. Nếp cũ con người Việt Nam (Tái bản 1992), Nxb. Tp. HCM, 1992.
3. Đoàn Văn Chúc. Văn hóa học. Nxb. VHTT, H.1997.
4. Trương Quang Đệ. “Văn hóa -  Yếu tố quyết định trong sự nghiệp phát triển của mọi dân tộc”, Viet-studies, ngày 26-2-2018.
5. Lê Như Hoa. Văn hóa gia đình với việc hình thành và phát triển nhân cách trẻ em. Nxb Văn hóa - Thông tin, H. 2001.
6. Vũ Ngọc Khánh. Văn hóa gia đình. Nxb Văn hóa dân tộc, H. 1998.
7. Lê Minh (chủ biên). Văn hoá gia đình Việt Nam và sự phát triển xã hội. Nxb Lao động, H. 1994.
8. Phạm Xuân Nam. Sự đa dạng văn hóa và đối thoại giữa các nền văn hóa một góc nhìn từ Việt Nam. Nxb. KHXH, H. 2000.
9. Phan Ngọc, Văn hóa Việt Nam và cách tiếp cận mới. Nxb. VHTT, H.1994.
10. Phan Ngọc, Một thức nhận về văn hóa Việt Nam. Nxb. VHTT, H.2005.
11. Tạ Văn Thành. “Văn hóa gia đình và gia đình văn hóa”. Trong: Xây dựng gia đình văn hóa trong sự nghiệp đổi mới. Bộ Văn hóa Thông tin, Nxb. Chính trị Quốc gia, H. 1997.
12. Trần Ngọc Thêm. Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam. Nxb. Tp. HCM, 1997. 2008
13. Trần Ngọc Thêm. Hệ giá trị  Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại và con đường tới tương lai. Nxb. Văn hóa văn nghệ, Tp. HCM, 2016.
14. Lê Ngọc Văn. Văn hóa gia đình. T/c Nghiên cứu gia đình và giới, 3 – 2011.
15. Trần Quốc Vượng. Văn hóa Việt Nam, tìm tòi và suy ngẫm. Nxb.VHDT, H.2000.
16. Viện Thông tin KHXH. Văn hóa học và văn hóa thế kỷ XX, Viện TTKHXH, H. 2001, tập I, II.
17. Chỉ thị số 49/CT-TW, ngày 21/2/2005 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về xây dựng gia đình thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Tin Liên quan

Góp ý về nội dung bài viết