Chủ Nhật, ngày 25 tháng 02 năm 2024

Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị tỉnh Quảng Bình

Ngày phát hành: 22/09/2019 Lượt xem 3030


1. Kết quả đạt được trong công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị của Quảng Bình

Về công tác xây dựng Đảng:

Trong thời gian qua, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở Quảng Bình được triển khai toàn diện trên tất cả các mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Tình hình Đảng bộ và nhân dân ổn định. Đoàn kết trong Đảng bộ, trong nhân dân được phát huy; kỷ luật, kỷ cương trong Đảng bộ được tăng cường, tạo được niềm tin, động lực mới để thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị đề ra.

Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên được chú trọng, ngày càng nâng cao chất lượng, hiệu quả. Đảng bộ đã chú trọng công tác giáo dục chính trị tư tưởng theo hướng tăng cường tính thuyết phục, tính chủ động và tính chiến đấu; coi trọng việc rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, giữ vững bản lĩnh chính trị, kiên định mục tiêu, đường lối đổi mới của Đảng; tích cực đấu tranh với những quan điểm sai trái, phản động, làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Việc tổ chức nghiên cứu, quán triệt các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư được thực hiện nghiêm túc, gắn với xây dựng chương trình hành động, kế hoạch thực hiện; chú trọng sơ kết, tổng kết thực tiễn. Đã có nhiều đổi mới về hình thức tổ chức học tập, quán triệt nghị quyết; tổ chức quán triệt bằng hình thức truyền hình trực tiếp trên sóng Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh, với đội ngũ báo cáo viên từ Hội đồng Lý luận Trung ương. Qua đó, đã cung cấp kịp thời nhiều tư liệu thực tiễn, phân tích, liên hệ làm sâu sắc thêm những nội dung mà nghị quyết Trung ương đã đề cập; làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân học tập, quán triệt Nghị quyết được hấp dẫn, thực sự có chất lượng, hiệu quả, nhận được sự đồng tình, ủng hộ của cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Công tác tuyên truyền được triển khai với nhiều hình thức phong phú, đã chú trọng lãnh đạo đẩy mạnh tuyên truyền, định hướng dư luận, ổn định tư tưởng, động viên nhân dân khắc phục, vượt qua khó khăn do sự cố môi trường biển, thiên tai, bão lũ,… Công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị, chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cho cán bộ, đảng viên thường xuyên được chú trọng.

Việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và các chuyên đề hằng năm được đẩy mạnh, tiến hành nghiêm túc, tạo được chuyển biến tích cực về ý thức tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên. Nhiều cấp ủy đã thể hiện sự năng động, sáng tạo và quyết tâm thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII) bằng những phương pháp mới, cách làm hay, thiết thực, hiệu quả, trong đó đã chú trọng gắn với thực hiện các quy định về trách nhiệm nêu gương của Trung ương. Đã xuất hiện nhiều tấm gương cán bộ, đảng viên gương mẫu, đi đầu trong học tập và làm theo Bác, được nhân dân ghi nhận. Quá trình thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW đã góp phần quan trọng vào việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) và thực hiện nhiệm vụ chính trị của các địa phương, đơn vị. Nhiều vấn đề nổi cộm, bức xúc ở cơ sở đã được giải quyết.

Đã đẩy mạnh công tác quản lý báo chí và truyền thông, tích cực đấu tranh ngăn chặn các thông tin xấu độc trên mạng xã hội để định hướng dư luận nhằm ổn định xã hội.

Công tác tổ chức xây dựng Đảng đã có nhiều chuyển biến tích cực. Cấp ủy các cấp đã triển khai thực hiện kịp thời các quy định, hướng dẫn của Trung ương về thi hành Điều lệ Đảng; cụ thể hóa các chủ trương, nghị quyết của Đảng về công tác tổ chức xây dựng Đảng, về siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng bằng các quy định, kế hoạch, chương trình hành động.

Đã tích cực triển khai các giải pháp củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, tạo được chuyển biến về chất lượng hoạt động của các loại hình tổ chức đảng, nhất là địa bàn khó khăn, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, vùng dân tộc, tôn giáo. Công tác bồi dưỡng, kết nạp đảng viên đã được coi trọng cả về chất lượng và số lượng; chú ý vùng đồng bào có đạo, vùng biên giới, trong doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước, các thôn, bản có ít đảng viên; thực hiện thí điểm việc kết nạp những người là chủ doanh nghiệp tư nhân đủ tiêu chuẩn vào Đảng; kết nạp đảng viên đối với quần chúng là người công giáo để xây dựng cơ sở chính trị vùng giáo.

Công tác cán bộ có nhiều đổi mới; Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành Chương trình hành động về đổi mới công tác cán bộ, nhiệm kỳ 2015 - 2020, với nhiều nội dung sáp hợp với thực tiễn nhằm đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ, phấn đấu tạo chuyển biến cơ bản trong công tác cán bộ; nghiên cứu triển khai những giải pháp mang tính đột phá để xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ mới. Đã thường xuyên rà soát, đánh giá đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý để bố trí phù hợp, trước hết là cán bộ đứng đầu địa phương, đơn vị; kịp thời và kiên quyết thay thế những cán bộ hạn chế về năng lực, trách nhiệm, trì trệ trong công việc. Đã chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, lối sống lành mạnh; không quan liêu, tham nhũng; có tinh thần trách nhiệm cao trước Đảng bộ và nhân dân; có tư duy sáng tạo, kiến thức vững vàng; phong cách làm việc khoa học, nói đi đôi với làm.

Ngay từ đầu nhiệm kỳ, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành Quy định số 01-QĐ/TU về trách nhiệm và xử lý trách nhiệm đối với người đứng đầu và cấp phó người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong thực hiện chức trách nhiệm vụ được giao nhằm cụ thể hóa nhiệm vụ chủ yếu trong công tác cán bộ là “Tăng cường xiết chặt kỷ luật, kỷ cương” và “tạo chuyển biến tích cực, tạo sức bật mới trong công tác cán bộ” và đạt được những kết quả quan trọng. Qua thực hiện Quy định, đã từng bước khắc phục được những khuyết điểm, hạn chế, nâng cao vai trò, trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành giải quyết công việc của đội ngũ cán bộ, công chức, nhất là người đứng đầu, cấp phó người đứng đầu, kiên quyết xử lý kỷ luật, điều chuyển công tác đối với cán bộ vi phạm khuyết điểm, được nhân dân đồng tình, đánh giá cao.

Tỉnh đã tổ chức tốt hội thảo khoa học với chủ đề “Kiểm soát quyền lực và phòng, chống “chạy chức, chạy quyền” trong công tác cán bộ”. Hội thảo tập trung đánh giá tình hình kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ hiện nay; nhận diện về vấn đề “chạy chức, chạy quyền” trong công tác cán bộ. Đề ra những giải pháp để cụ thể hóa các nghị quyết, quy định của Trung ương phù hợp với tình hình thực tế của tỉnh nhằm tăng cường kiểm soát quyền lực và phòng, chống “chạy chức, chạy quyền” trong công tác cán bộ hiện nay.

Công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ có nhiều đổi mới. Để tạo nguồn cán bộ lâu dài, các thế hệ cán bộ luôn có sự kế tục, tỉnh đã thực hiện tốt công tác quy hoạch cán bộ và mở các lớp bồi dưỡng dự nguồn các chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp ủy, chức danh cán bộ chủ chốt cấp tỉnh, cấp huyện, bí thư cấp xã... Đã và đang thực hiện thí điểm thi tuyển chức danh lãnh đạo, quản lý cấp sở, cấp phòng; trong năm 2018, đã tổ chức thi tuyển 02 vị trí lãnh đạo, quản lý thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý. Qua thi tuyển, đã phát hiện, tuyển chọn được cán bộ có phẩm chất, trình độ, năng lực, kinh nghiệm; tạo bước đột phá trong công tác cán bộ và tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, khắc phục tình trạng cục bộ, khép kín.

Công tác luân chuyển cán bộ đã được quan tâm thực hiện; chú trọng luân chuyển cán bộ trẻ, có trong quy hoạch. Luân chuyển cán bộ đã gắn kết chặt chẽ với việc bố trí một số chức danh cán bộ không phải là người địa phương, cán bộ cần chuyển đổi đã giữ chức vụ hai nhiệm kỳ. Từ đầu nhiệm kỳ đến nay, đã luân chuyển, điều động, tăng cường 15 cán bộ từ tỉnh về huyện, thị xã, thành phố giữ các chức danh bí thư, phó bí thư cấp ủy cấp huyện; chủ tịch, phó chủ tịch ủy ban nhân dân huyện, thị xã, thành phố. Các huyện, thị, thành ủy thực hiện luân chuyển 26 cán bộ; điều động, tăng cường 09 cán bộ giữ các chức vụ bí thư, phó bí thư đảng ủy, chủ tịch, phó chủ tịch ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn. Thực tiễn công tác luân chuyển đã tạo động lực mới trong công tác cán bộ, nhất là đối với đội ngũ cán bộ trong quy hoạch; khắc phục tình trạng cục bộ, khép kín. Cán bộ luân chuyển là cán bộ trẻ, trong quy hoạch, có triển vọng phát triển; có phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống và năng lực công tác tốt; cán bộ luân chuyển được tiếp cận, cọ xát với thực tế nên đã có bước trưởng thành.

Công tác kiểm tra, giám sát đã bám sát nhiệm vụ chính trị, chất lượng, hiệu quả tiếp tục được nâng lên. Các cấp ủy đã triển khai thực hiện ngày càng có chất lượng công tác kiểm tra, giám sát; đã chủ động xây dựng kế hoạch kiểm tra, giám sát hằng năm và tổ chức thực hiện nghiêm túc, có chất lượng, đặc biệt đã chú trọng kiểm tra đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm, kiểm tra cấp dưới cách một cấp. Từ năm 2016 - 2018, các cấp ủy đã kiểm tra 1.827 tổ chức đảng, 4.419 đảng viên; giám sát 1.167 tổ chức đảng, 4.373 đảng viên. Công tác thi hành kỷ luật trong Đảng được thực hiện kịp thời, góp phần phòng ngừa, ngăn chặn vi phạm, tăng cường kỷ cương, kỷ luật của Đảng, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình cao. Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo được thực hiện nghiêm túc, đúng quy định.

Công tác nội chính được tăng cường. Các cấp ủy đã tập trung lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ quốc phòng - an ninh, công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, tham nhũng, lãng phí; tập trung chỉ đạo, xử lý kịp thời các vấn đề nổi lên về an ninh, trật tự và thực thi pháp luật; đôn đốc, chỉ đạo giải quyết các vụ án thuộc diện thường trực cấp ủy theo dõi, chỉ đạo giải quyết; rà soát các cuộc thanh tra về kinh tế - xã hội hằng năm.

Công tác phòng, chống tham nhũng được triển khai tích cực; một số vụ án tham nhũng đã được phát hiện và kiên quyết chỉ đạo giải quyết theo đúng quy định của pháp luật. Đã quan tâm công tác chỉ đạo xử lý kịp thời các đơn, thư khiếu nại, tố cáo, phản ánh, kiến nghị của công dân gửi đến cấp ủy, khắc phục tình trạng đơn, thư tồn đọng kéo dài.

Công tác dân vận của hệ thống chính trị được đẩy mạnh, mối quan hệ gắn bó giữa Đảng với nhân dân ngày càng được tăng cường. Nội dung, phương thức công tác dân vận của hệ thống chính trị đã có nhiều đổi mới theo hướng bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của cấp ủy, đồng thời, phát huy vai trò của chính quyền, Mặt trận, đoàn thể và quyền làm chủ của nhân dân. Đã tập trung triển khai hai trọng tâm, đó là: Tăng cường vận động nhân dân vùng đồng bào có đạo và đẩy mạnh công tác dân vận của các cơ quan Nhà nước, quan tâm củng cố các chi đoàn, chi hội, ban công tác Mặt trận địa bàn vùng giáo, gắn với chủ đề “Năm dân vận chính quyền”. Đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiều chủ trương, chính sách, tạo điều kiện cho nhân dân phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững, nâng cao đời sống; thường xuyên nắm tình hình nhân dân, giải quyết đúng đắn, kịp thời các vấn đề phức tạp nổi lên trong nhân dân sát với tình hình thực tiễn ở cơ sở, nhất là đã tập trung cao cho công tác vận động, giải quyết các hoạt động tôn giáo trái pháp luật. Đã tăng cường thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, phát huy quyền làm chủ của nhân dân theo phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” và vai trò giám sát, phản biện của Mặt trận, đoàn thể đối với tổ chức đảng, cơ quan nhà nước, cán bộ, đảng viên.

Phương thức lãnh đạo, lề lối làm việc của cấp ủy các cấp ngày càng được cải tiến, đổi mới, khoa học. Tỉnh ủy và cấp ủy các cấp đã ban hành và thực hiện nghiêm túc Quy chế làm việc, Chương trình công tác toàn khóa, nhiệm kỳ 2015 - 2020. Đã coi trọng việc sửa đổi Quy chế làm việc để phù hợp với các quy định của Trung ương và tình hình thực tế của địa phương.

Sự lãnh đạo của Tỉnh ủy và cấp ủy các cấp bảo đảm tính toàn diện, đồng bộ trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh, công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị tỉnh; xác định đúng những vấn đề trọng tâm, trọng điểm, xây dựng các giải pháp đột phá với quyết tâm cao và tinh thần đoàn kết, năng động, sáng tạo để lãnh đạo thực hiện có hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra trong từng năm và cho cả nhiệm kỳ.

Tỉnh ủy và các cấp ủy luôn tăng cường sự lãnh đạo đối với phát triển kinh tế; không ngừng đổi mới tư duy về kinh tế, nâng cao năng lực lãnh đạo kinh tế của tổ chức đảng các cấp. Công tác lãnh đạo của cấp ủy có sự thống nhất giữa chính sách kinh tế với chính sách xã hội; chính sách xã hội được đặt ngang tầm với chính sách kinh tế và thực hiện đồng bộ với phát triển kinh tế. Đã coi trọng lãnh đạo giải quyết các vấn đề xã hội, nhất là an sinh xã hội; nâng cao đời sống cho các tầng lớp nhân dân; chăm lo phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng đồng bào có đạo; khôi phục sản xuất, đời sống, ổn định tình hình nhân dân sau sự cố môi trường biển, thiên tai, bão lũ. Đã kiên trì, chú trọng xây dựng Đảng bộ tỉnh trong sạch, vững mạnh trên cả ba mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức; thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên; giữ vững sự đoàn kết thống nhất, ổn định trong Đảng bộ để bảo đảm giữ vững vai trò lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp.

Các cấp ủy đã thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của cá nhân, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu; coi trọng hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết việc thực hiện nghị quyết, chỉ thị của Đảng. Đã có nhiều cải tiến và nâng cao chất lượng các kỳ họp của cấp ủy, chế độ thông tin, báo cáo, tự phê bình và phê bình trong nội bộ Đảng.

Về xây dựng hệ thống chính trị:

Thực hiện các nghị quyết, kết luận của Đảng về xây dựng tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị, hoàn thiện hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở và Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương, Đảng bộ tỉnh đã tích cực thực hiện đổi mới, sắp xếp hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả với quyết tâm chính trị cao nhất và đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận.

Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã thành lập Ban Chỉ đạo của tỉnh về quản lý tổ chức bộ máy và biên chế; ban hành các văn bản chỉ đạo việc sắp xếp tổ chức bộ máy và tinh giản biên chế. Các văn bản ban hành luôn nhất quán quan điểm là tập trung lãnh đạo, chỉ đạo sắp xếp tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, tránh chồng chéo; quá trình sắp xếp lại tổ chức bộ máy không được tăng thêm đầu mối và biên chế, trường hợp đặc biệt được giao nhiệm vụ mới cần tăng thêm đầu mối thì phải có ý kiến của Ban Thường vụ Tỉnh ủy; không thành lập mới các tổ chức trung gian; giải thể, sắp xếp, tổ chức lại các cơ quan, đơn vị nhỏ lẻ, hoạt động không hiệu quả. Rà soát, đề xuất phương án đối với những phòng, ban thuộc các sở, ban, ngành có từ 03 biên chế trở xuống thì sáp nhập với các phòng, ban khác tương đồng hoặc gần về chức năng, nhiệm vụ để giảm đầu mối.

Đến nay, Quảng Bình đã cơ bản hoàn thành việc rà soát, sắp xếp đầu mối bên trong các cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc Tỉnh ủy trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan và định hướng khung tại Quy định số 04-QĐi/TW ngày 25/7/2018 của Ban Bí thư; đảm bảo nguyên tắc ít nhất có 05 người mới lập một phòng và tương đương, phòng có dưới 10 người được bố trí trưởng phòng và 01 phó trưởng phòng, có từ 10 người trở lên được bố trí không quá 02 phó trưởng phòng; tổng số cấp phó của các cơ quan tham mưu, giúp việc Tỉnh ủy không quá 15 người theo đúng quy định; tổ chức lại văn phòng cấp uỷ để phục vụ chung các cơ quan tham mưu, giúp việc cấp uỷ cấp. Kết quả đã giảm được 05 đầu mối cấp phòng và 05 trưởng phòng, 21 phó trưởng phòng. Đối với 10 đơn vị sự nghiệp trực thuộc cơ quan Đảng và các đoàn thể chính trị - xã hội tỉnh, theo lộ trình từ năm 2019 - 2021 giảm từ 4 - 5 đơn vị sự nghiệp; năm 2019 đã giảm 03 đơn vị.

Đã rà soát, sắp xếp giảm 51 đầu mối bên trong các cơ quan tham mưu, giúp việc, đơn vị sự nghiệp của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh: 12 phòng chuyên môn thuộc sở; 19 phòng chuyên môn thuộc Chi cục và tương đương; 8 đơn vị sự nghiệp công lập và 12 phòng chuyên môn thuộc đơn vị sự nghiệp công lập; giảm 8 lãnh đạo cấp trưởng của 8 đơn vị sự nghiệp công lập và 43 lãnh đạo cấp phòng. Đối với các ban quản lý dự án, sau khi tiến hành sắp xếp đã giảm 04 ban quản lý dự án trực thuộc các sở. Đối với cấp huyện, sau khi rà soát, sắp xếp đã giảm 41 cấp phó, bao gồm: cấp phó phòng trực thuộc sở, ban, ngành, đơn vị cấp tỉnh, ủy ban nhân dân cấp huyện là 23; cấp phó phòng thuộc chi cục, trung tâm là 18.

Thực hiện thí điểm việc kiêm nhiệm chức danh người đứng đầu hoặc hợp nhất một số cơ quan của cấp uỷ và cơ quan chuyên môn của chính quyền có chức năng, nhiệm vụ tương đồng ở cấp tỉnh, cấp huyện được tiến hành đối với những đơn vị chưa có người đứng đầu, cán bộ được lựa chọn đứng đầu hai cơ quan phải có năng lực, trình độ, kinh nghiệm, có thời gian công tác còn lại 02 nhiệm kỳ, ít nhất cũng phải trọn 01 nhiệm kỳ; mỗi huyện, thị, thành phố tùy theo tình hình cụ thể để thực hiện 01 đến 02 mô hình thí điểm. Đã thực hiện nhất thể hóa chức danh Chủ nhiệm UBKT với Chánh thanh tra ở Thị xã Ba Đồn; trưởng ban tuyên giáo đồng thời là giám đốc trung tâm bồi dưỡng chính trị tại 8/8 đơn vị cấp huyện.

Mô hình bí thư cấp uỷ đồng thời là chủ tịch hội đồng nhân dân các cấp đã thực hiện ở cấp tỉnh, 5/8 đơn vị cấp huyện và 97/159 xã, phường, thị trấn; bí thư cấp ủy không phải là người địa phương được thực hiện tại 6/8 đơn vị cấp huyện; bí thư đồng thời là chủ tịch ủy ban nhân dân cấp xã đối với 04 đơn vị. Mô hình bộ phận Văn phòng phục vụ chung khối Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội cấp huyện từ ngày 01/9/2018 đối với 06 địa phương, 02 địa phương còn lại sẽ tiến hành trong năm 2019 do điều kiện về trụ sở chung chưa hoàn thành. Mô hình Bộ phận Văn phòng chung Đảng ủy - Hội đồng nhân dân - Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện từ ngày 01/12/2018.

Cùng với việc sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy các cơ quan đảng, cơ quan hành chính nhà nước; Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội đã tiến hành rà soát, sắp xếp lại phù hợp hơn; chức năng, nhiệm vụ được bổ sung, hoàn thiện; nội dung, phương thức hoạt động đã có nhiều đổi mới.

2. Từ thực tiễn và kết quả đạt được về công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị của Quảng Bình trong thời gian qua, rút ra một số bài học kinh nghiệm sau đây:

Một, trong bất kỳ thời kỳ cách mạng, điều kiện và tình huống nào cũng phải kiên trì thực hiện đường lối và mục tiêu đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc, truyền thống “Quảng Bình quật khởi”, “Quảng Bình Hai giỏi” trong thời kỳ đổi mới.

Hai, phải quán triệt sâu sắc và nắm vững chủ trương, đường lối, Cương lĩnh, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, căn cứ vào thực tiễn để vận dụng, cụ thể hóa một cách sát hợp, sáng tạo gắn với tăng cường kiểm tra, giám sát để kịp thời bổ sung, uốn nắn những thiếu sót, hạn chế. Phải tăng cường sự đoàn kết, thống nhất cao trong cấp ủy, chính quyền, Mặt trận, các đoàn thể, các cấp, các ngành - đây chính là nhân tố quyết định để thực hiện thắng lợi các mục tiêu, chỉ tiêu đã đề ra.

Ba, công tác lãnh đạo, chỉ đạo phải quyết liệt, có trọng tâm, trọng điểm, có các giải pháp mang tính đột phá, luôn bám sát ba định hướng lớn, đó là: Cụ thể hóa các cơ chế, chính sách về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; tăng cường đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội. Chú trọng công tác sơ kết, tổng kết thực tiễn, kịp thời phát hiện và nhân rộng điển hình tiên tiến.

Bốn, phải bám sát cơ sở, địa bàn; xử lý kiên quyết, kịp thời những vấn đề nổi lên, những vấn đề bức xúc trong nhân dân, không để lây lan. Phải luôn giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, trật tự và an toàn xã hội để tạo môi trường thuận lợi cho kinh tế - xã hội phát triển.

Năm, phải tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức, kỷ luật của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình. Xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong hoạt động của chính quyền, Mặt trận, các tổ chức chính trị - xã hội và của cả hệ thống chính trị.

Sáu, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, mở rộng dân chủ xã hội, xây dựng mối quan hệ mật thiết với nhân dân, quan tâm chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.

3. Để tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ, xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực hiệu quả, Đảng bộ tỉnh Quảng Bình xác định các nhiệm vụ cần tập trung thực hiện trong thời gian tới như sau:

Thứ nhất, chăm lo công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng. Tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng. Kiên định và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các nghị quyết, chỉ thị của Đảng vào điều kiện cụ thể của địa phương. Tăng cường đoàn kết, đổi mới, kỷ cương, năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đột phá vì lợi ích chung trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Nâng cao tính chiến đấu, tính thuyết phục, hiệu quả của công tác tư tưởng.

Tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền. Đổi mới cách thức học tập, quán triệt các nghị quyết của Đảng; kết hợp chặt chẽ giữa công tác giáo dục chính trị, tư tưởng với công tác tổ chức và cán bộ; kịp thời nắm bắt và định hướng dư luận xã hội. Chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Lãnh đạo để nâng cao chất lượng hoạt động thông tin, báo chí, vai trò và trách nhiệm của các cơ quan thông tin đại chúng đối với sự phát triển của tỉnh, bảo đảm thông tin khách quan, trung thực, đúng định hướng, vì sự phát triển của tỉnh nhà.

Đẩy mạnh thường xuyên việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với các phong trào thi đua yêu nước, nâng cao bản lĩnh chính trị, đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, xây dựng sự đoàn kết, thống nhất cao trong Đảng bộ. Đề cao trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp.

Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, cán bộ, đảng viên trong thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII). Kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng bộ, củng cố niềm tin của đảng viên và nhân dân đối với Đảng.

Thứ hai, tiếp tục cụ thể hóa, tổ chức thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Trung ương về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức, bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và Chương trình hành động của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về đổi mới công tác cán bộ bảo đảm phù hợp thực tiễn, tạo chuyển biến thực sự trong công tác tổ chức, bộ máy và công tác cán bộ.

Tập trung làm tốt công tác chuẩn bị một bước nhân sự đại hội đảng các cấp nhiệm kỳ tới theo quy định của Trung ương. Thực hiện mục tiêu cơ cấu cán bộ trẻ, cán bộ nữ; số lượng cán bộ quy hoạch ban chấp hành, ban thường vụ cấp ủy tỉnh và huyện luôn đảm bảo hệ số từ 1,5 - 2 lần theo quy định; tỷ lệ cấp ủy viên nữ không dưới 15%; tỷ lệ trẻ không dưới 10%. Phấn đấu nâng cao tỷ lệ cấp ủy viên nữ, trẻ theo Nghị quyết Trung ương 7 (khóa XII). Kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện tiêu cực trong công tác cán bộ.

Xây dựng, củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng. Tiếp tục sắp xếp các mô hình tổ chức đảng cho phù hợp để đảm bảo hoạt động có hiệu quả. Tập trung phát triển đảng viên ở vùng dân tộc thiểu số, vùng có đạo, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và trong doanh nghiệp tư nhân.

Tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm túc phương châm hành động xuyên suốt của nhiệm kỳ 2015 - 2020 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đã đề ra: “Tăng cường xiết chặt kỷ luật, kỷ cương, biến lời nói thành hành động” và Quy định của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về trách nhiệm, xử lý trách nhiệm đối với người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao.

Thứ ba, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát. Cấp ủy các cấp chủ động xây dựng kế hoạch kiểm tra, giám sát hằng năm có trọng tâm, trọng điểm và phân công cấp ủy trực tiếp tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát. Thực hiện tốt việc kiểm tra, giám sát người đứng đầu cơ quan, tổ chức trong việc thực hiện cam kết về giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống, thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao.

Tăng cường kiểm tra, giám sát tổ chức đảng cấp dưới, đảng viên, trước hết là cấp ủy viên cùng cấp, cán bộ thuộc diện cấp ủy cấp mình quản lý; chủ động phát hiện, nắm tình hình, kịp thời kiểm tra tổ chức đảng, đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm. Thi hành kỷ luật nghiêm minh tổ chức đảng, đảng viên vi phạm. Kết hợp chặt chẽ, đồng bộ, thống nhất giữa công tác kiểm tra, giám sát của Đảng với công tác thanh tra, điều tra của các cơ quan thực thi pháp luật, hoạt động giám sát của Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh, của Hội đồng nhân dân, của Mặt trận, các tổ chức chính trị - xã hội và các cơ quan báo chí.

Thứ tư, tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy đối với công tác nội chính. Lãnh đạo các cơ quan nội chính nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án và phòng chống tham nhũng, lãng phí; không để xẩy ra oan, sai, không bỏ lọt tội phạm và hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Thực hiện tốt công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân; giải quyết dứt điểm các vụ việc khiếu nại, tố cáo đông người, phức tạp, không để tồn đọng, kéo dài. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả Chiến lược cải cách tư pháp.

Thứ năm, tăng cường và đổi mới công tác dân vận trong tình hình mới theo hướng gắn với cơ sở, thực hiện hai nhiệm vụ trọng tâm là: Tăng cường vận động nhân dân vùng đồng bào có đạo và đẩy mạnh công tác dân vận chính quyền. Chú trọng xây dựng, củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở. Thực hiện đồng bộ, có hiệu quả Quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị tỉnh; đẩy mạnh phong trào thi đua “Dân vận khéo”. Thường xuyên tiếp xúc, đối thoại, nắm chắc tình hình đời sống, tư tưởng và các vấn đề nổi lên trong nhân dân để giải quyết kịp thời, dứt điểm, nhất là nơi đang triển khai giải phóng mặt bằng, vùng đồng bào dân tộc, tôn giáo. Chú trọng làm tốt công tác xây dựng lực lượng cốt cán vùng đồng bào có đạo.

Đổi mới nội dung, phương thức thực hiện công tác dân vận của cơ quan nhà nước gắn với chủ đề “Năm dân vận chính quyền”, đưa công tác dân vận trở thành nhiệm vụ thường xuyên gắn với việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan nhà nước, công chức, viên chức. Thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở, giải quyết kịp thời những kiến nghị, nguyện vọng chính đáng liên quan trực tiếp đến đời sống và sinh hoạt của nhân dân.

Phát huy vai trò của Mặt trận và các đoàn thể để Mặt trận và các đoàn thể thực sự là tổ chức giữ vai trò nòng cốt, đại diện, bảo vệ quyền lợi chính đáng, hợp pháp của đoàn viên, hội viên, nhân dân; thực hiện có hiệu quả vai trò giám sát, phản biện xã hội, tích cực tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền; hướng hoạt động về cơ sở, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc, tôn giáo để xây dựng, củng cố hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh.

Thứ sáu, tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, lề lối làm việc của cấp ủy. Tập trung đổi mới phương thức lãnh đạo của cấp ủy đối với hệ thống chính trị, nhất là đối với Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân. Xây dựng hệ thống chính trị hoạt động năng động, có hiệu lực, hiệu quả, vừa bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng, vừa phát huy mạnh mẽ vai trò, tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của các tổ chức trong hệ thống chính trị.

Thực hiện tốt các nguyên tắc tổ chức, kỷ luật của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình. Phát huy vai trò, trách nhiệm của các tổ chức đảng, đảng viên, cấp ủy viên trong các cơ quan nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu. Chú trọng phân công, phân cấp, phát huy quyền chủ động, sáng tạo của các địa phương; đề cao trách nhiệm của cấp ủy viên; đồng thời, bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất của Đảng bộ. Tăng cường đoàn kết, nhất trí cao trong cấp ủy và tổ chức đảng các cấp./.

 

Trần Xuân Vinh

Ủy viên Ban thường vụ

Trưởng ban Tổ chức Tỉnh ủy Quảng Bình

 

 

Tin Liên quan

Góp ý về nội dung bài viết