Thứ Tư, ngày 25 tháng 02 năm 2026

Xây dựng văn hóa, con người Việt Nam trong thời kỳ chuyển đổi số quốc gia

Ngày phát hành: 25/02/2026 Lượt xem 26


 

Mở đầu: Chuyển đổi số (CĐS) đang là xu thế tất yếu trên toàn cầu và Việt Nam cũng không nằm ngoài dòng chảy đó. Công nghệ số thâm nhập vào mọi mặt đời sống, đặt ra yêu cầu cấp thiết phải xây dựng một nền văn hoá số và phát triển con người Việt Nam phù hợp với kỷ nguyên mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi”[1], nghĩa là văn hoá phải trở thành ngọn đuốc soi sáng, dẫn dắt quốc dân trong sự nghiệp phát triển. Quan điểm này càng có ý nghĩa sâu sắc trong thời kỳ chuyển đổi số hiện nay, khi văn hoá và con người chính là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh quyết định sự thành bại của công cuộc hiện đại hoá đất nước. Bài tham luận này sẽ phân tích bối cảnh, ảnh hưởng của chuyển đổi số đối với văn hoá và con người, đồng thời đề xuất những định hướng, giải pháp nhằm xây dựng văn hoá, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu của thời kỳ chuyển đổi số quốc gia.

 

1. Bối cảnh chuyển đổi số và yêu cầu phát triển văn hoá, con người

 

Chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ trên phạm vi toàn thế giới, mở ra kỷ nguyên kinh tế số, xã hội số, với những thành tựu như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, Internet vạn vật… Tại Việt Nam, Chính phủ đã ban hành Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, tầm nhìn 2030, xác định ba trụ cột chính: chính phủ số, kinh tế số, xã hội số. Trong đó, văn hoá và con người là những yếu tố xuyên suốt, vừa là mục tiêu vừa là động lực cho chuyển đổi số bền vững. Đảng ta khẳng định “văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước”[2], do đó trong kỷ nguyên số, càng phải đặt văn hoá ngang tầm với kinh tế, chính trị, xã hội.

 

Ở tầm vĩ mô, Đảng và Nhà nước đã sớm chú trọng lồng ghép nhiệm vụ phát triển văn hoá, con người trong chiến lược chuyển đổi số. Tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc (11/2021), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã giao nhiệm vụ “xây dựng môi trường văn hóa số phù hợp với nền kinh tế số, xã hội số và công dân số”[3] nhằm giúp văn hoá thích nghi, điều tiết sự phát triển bền vững đất nước trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0. Chính phủ cũng ban hành Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030 (ngày 12/11/2021) với mục tiêu đẩy mạnh số hoá trong lĩnh vực văn hoá. Những định hướng này cho thấy: xây dựng văn hoá, con người trong thời kỳ số không chỉ là mong muốn mà đã trở thành yêu cầu cấp bách, có tính sống còn đối với sự phát triển của dân tộc.

 

 

2. Ảnh hưởng của chuyển đổi số tới văn hoá và con người

 

Tác động tích cực: Chuyển đổi số mang lại những cơ hội to lớn để bảo tồn và phát huy văn hoá dân tộc. Công nghệ số cho phép số hoá di sản văn hoá, giúp lưu trữ, phổ biến kho tàng văn hoá đến rộng rãi công chúng. Chẳng hạn, chương trình số hoá di sản đang hướng tới mục tiêu 100% di sản UNESCO và di tích quốc gia đặc biệt của Việt Nam được số hoá trước 2030, giúp người dân dễ dàng tiếp cận di sản mọi lúc, mọi nơi. Nhiều ứng dụng công nghệ mới đã tạo trải nghiệm văn hoá độc đáo: thực tế ảo (VR) được sử dụng để tái hiện những khoảnh khắc lịch sử hào hùng, cho phép người xem “xuyên không” về quá khứ, hoà mình vào không khí thiêng liêng của dân tộc. Tại Quảng Ninh, việc ứng dụng VR tái hiện cảnh Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập 1945 đã thu hút mạnh mẽ giới trẻ, giúp họ tiếp cận lịch sử theo cách gần gũi và sinh động.

Ngoài ra, chuyển đổi số mở rộng không gian giao lưu văn hoá. Qua Internet và mạng xã hội, hình ảnh đất nước, con người Việt Nam có thể quảng bá ra thế giới dễ dàng hơn. Các sản phẩm văn hoá số (phim ảnh, âm nhạc, trò chơi điện tử…) có thể tiếp cận hàng triệu người dùng toàn cầu, góp phần đưa văn hoá Việt hoà nhập và toả sáng trên thị trường quốc tế. Đối với mỗi cá nhân, công nghệ số tạo điều kiện tiếp cận tri thức thuận tiện (sách điện tử, khóa học trực tuyến…), giúp nâng cao dân trí và hiểu biết văn hoá. Người dân cũng có thêm nhiều lựa chọn giải trí, sáng tạo mới trong môi trường số, từ đó đời sống tinh thần phong phú hơn.

 

Tác động tiêu cực: Bên cạnh lợi ích, chuyển đổi số cũng đặt ra không ít thách thức cho văn hoá và con người. Trước tiên là nguy cơ mai một bản sắc văn hoá trong môi trường toàn cầu hoá trực tuyến. Làn sóng văn hoá ngoại nhập tràn vào qua mạng có thể lấn át các giá trị truyền thống nếu chúng ta không đủ bản lĩnh và sáng tạo để lan tỏa văn hoá Việt Nam ra thế giới, đồng thời tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hoá nhân loại. Việc giới trẻ dành nhiều thời gian trên không gian mạng cũng dễ làm họ xa rời sinh hoạt văn hoá cộng đồng, giảm tương tác trực tiếp trong gia đình, xã hội.

 

Mặt khác, vấn nạn nội dung xấu độc trên không gian mạng ảnh hưởng tiêu cực đến nhân cách, lối sống con người. Tin giả, thông tin sai lệch lan truyền nhanh gây hoang mang dư luận; các nội dung bạo lực, phản cảm, phản văn hoá có thể đầu độc tâm hồn, đặc biệt là thế hệ trẻ. Điều này đòi hỏi xây dựng “bộ lọc” văn hoá và ý thức tự đề kháng trong mỗi người khi tiếp nhận thông tin số.

 

Một thách thức lớn nữa là khoảng cách số giữa các nhóm dân cư. Không phải ai cũng có điều kiện tiếp cận và kỹ năng sử dụng công nghệ. Sự chênh lệch về trình độ công nghệ và ngoại ngữ giữa đô thị với nông thôn, đồng bằng với miền núi, người trẻ với người già… có nguy cơ tạo ra bất bình đẳng trong thụ hưởng văn hoá số . Nếu không có giải pháp, chuyển đổi số có thể khiến nhóm yếu thế bị tụt lại, làm suy giảm tính bao trùm của phát triển văn hoá, con người.

 

Cuối cùng, xung đột giữa cái cũ và cái mới là rào cản không nhỏ. Chuyển đổi số không chỉ là đưa công nghệ vào quy trình cũ, mà đòi hỏi thay đổi cả thói quen, cách nghĩ, cách làm. Nhiều người còn tâm lý e ngại, chưa sẵn sàng từ bỏ lối mòn truyền thống để tiếp nhận cái mới. Nếu nhận thức xã hội không thay đổi kịp, việc áp dụng công nghệ sẽ nửa vời và chuyển đổi số khó đạt thành công trọn vẹn.

 

Tóm lại, chuyển đổi số tác động hai mặt đến văn hoá và con người. Vấn đề cốt lõi là làm sao phát huy được mặt tích cực, đồng thời hạn chế, khắc phục mặt tiêu cực. Điều này đòi hỏi một chiến lược xây dựng văn hoá, con người toàn diện trong kỷ nguyên số.

 

3. Thực trạng triển khai xây dựng văn hoá, con người thời kỳ chuyển đổi số

 

Trong những năm gần đây, Việt Nam đã đạt được một số kết quả bước đầu trong việc số hoá lĩnh vực văn hoá và chuẩn bị nguồn lực con người cho thời kỳ mới:

 

Hoàn thiện thể chế, chính sách: Hệ thống chính sách về chuyển đổi số trong văn hoá dần được hoàn thiện. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (BVHTTDL) đã ban hành Chương trình Chuyển đổi số của ngành Văn hoá đến 2025, định hướng 2030 (Quyết định 3611/QĐ-BVHTTDL ngày 31/12/2021) nhằm đổi mới căn bản hoạt động quản lý, phục vụ người dân tốt hơn trong môi trường số. Thủ tướng Chính phủ cũng phê duyệt Chương trình Số hoá Di sản Văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021-2030 (Quyết định 2026/QĐ-TTg ngày 2/12/2021) với mục tiêu xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về di sản văn hoá trên nền tảng số. Đặc biệt, cuối năm 2025, Chính phủ ban hành Nghị định 308/2025/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Di sản văn hoá, trong đó quy định rõ yêu cầu về chuyển đổi số trong lĩnh vực di sản, như bảo đảm hạ tầng kỹ thuật, tiêu chuẩn dữ liệu, an toàn, bảo mật và nguyên tắc không làm tổn hại tính nguyên gốc của di sản khi số hoá. Đây là những khung pháp lý quan trọng tạo nền tảng cho việc triển khai CĐS văn hoá.

 

Số hoá di sản và tư liệu văn hoá: Nhiều dự án số hoá di sản đã được triển khai trên cả nước. Tính đến nay, Việt Nam có khoảng 41.000 di tích, danh thắng (hơn 4.000 di tích xếp hạng quốc gia) và 8.000 lễ hội truyền thống - một kho tàng đồ sộ đang dần được số hoá[4]. Ngành văn hoá đã xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu di sản chung, cho phép tra cứu, quản lý thông tin di sản trên nền tảng số. Một số địa phương tiên phong ứng dụng công nghệ 3D để số hoá và tạo bản sao kỹ thuật số cho các di tích, hiện vật bảo tàng, giúp công chúng có thể tham quan trực tuyến hoặc hỗ trợ công tác trùng tu di sản. Chẳng hạn, tỉnh Quảng Ninh đã số hoá 86% di tích lịch sử văn hoá, danh lam thắng cảnh được xếp hạng trên địa bàn[5]. Dữ liệu số không chỉ giúp bảo tồn lâu dài mà còn tạo tài sản vô giá phục vụ phát triển các ngành công nghiệp văn hoá (như du lịch di sản, phim ảnh…), mang lại giá trị kinh tế cho đất nước.

 

Ứng dụng công nghệ trong hoạt động văn hoá: Nhiều dự án ứng dụng công nghệ đã nâng cao hiệu quả truyền thông và giáo dục văn hoá. Ngành văn hoá đẩy mạnh xây dựng bảo tàng số, thư viện số. Ví dụ Thư viện Quảng Ninh đã triển khai hệ thống thư viện số thông minh, hay Bảo tàng Quảng Ninh áp dụng bán vé điện tử, thuyết minh tự động hai ngôn ngữ để phục vụ du khách[6]. Các sự kiện văn hoá trực tuyến, triển lãm ảo trong thời kỳ COVID-19 cũng là minh chứng cho khả năng thích ứng của ngành văn hoá trong môi trường số. Nhiều địa phương đã xây dựng bộ tiêu chí văn hoá số nhằm định hướng hành vi ứng xử của người dân trên môi trường mạng, tiêu biểu như Quảng Ninh ban hành Bộ tiêu chí “Văn hóa số của người Quảng Ninh văn minh, lịch sự trên môi trường số” để tuyên truyền lối sống đẹp trên không gian mạng[7].

Phát triển công nghiệp văn hoá số: Thị trường nội dung số Việt Nam đang phát triển sôi động với sự tham gia của cả khu vực nhà nước và tư nhân. Năm 2025, Bộ VHTTDL đã phối hợp với Tổng Công ty VTC và nhiều doanh nghiệp công nghệ tổ chức lễ ký kết hợp tác chiến lược phát triển văn hoá số và bảo hộ bản quyền. Tại sự kiện này, 18 thỏa thuận hợp tác đã được ký kết, tập trung vào ba nhóm lĩnh vực chính: (1) Phát triển nội dung và quảng bá Văn hóa, Thể thao, Du lịch trên nền tảng số, (2) Bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan trong môi trường số, (3) Phát triển điện ảnh và thể thao điện tử[8]. Sự hợp tác công-tư này thể hiện cam kết xây dựng môi trường số lành mạnh, bền vững, thúc đẩy đa dạng các lĩnh vực văn hoá thời đại số như văn hóa số, đào tạo số, eSports, công nghiệp sáng tạo… . Các nhiệm vụ trọng tâm đặt ra bao gồm: xây dựng hệ thống kênh truyền thông đa ngôn ngữ quảng bá văn hóa, du lịch Việt Nam ra quốc tế; ứng dụng AI, blockchain để giám sát vi phạm bản quyền, tạo hệ thống quản lý quyền minh bạch; thúc đẩy eSports thành ngành công nghiệp quy mô lớn, nâng tầm vị thế Việt Nam trên đấu trường quốc tế; hỗ trợ hạ tầng và nền tảng cho các tác giả sáng tạo, thương mại hóa sản phẩm; kết hợp bảo hộ pháp lý với sức mạnh truyền thông đa nền tảng để lan tỏa giá trị văn hóa Việt Nam; và liên kết đào tạo nhân lực chuyên sâu về AI, quản trị, tài chính… phục vụ hệ sinh thái số. Đây là bước đi then chốt nhằm hiện thực hóa mục tiêu đưa “vẻ đẹp Việt Nam” lan tỏa bằng sức mạnh công nghệ số.

 

 

Phát triển nguồn nhân lực và công dân số: Về mặt con người, Việt Nam đang từng bước nâng cao dân trí số. Tỷ lệ người dùng Internet ở nước ta đã vượt 70% dân số (theo thống kê những năm gần đây), cho thấy người dân đang ngày càng quen thuộc với môi trường trực tuyến. Ngành giáo dục đào tạo đã triển khai chương trình chuyển đổi số giáo dục, đưa nội dung tin học, công nghệ, kỹ năng số vào nhà trường sớm hơn. Sau đại dịch COVID-19, kỹ năng học tập và làm việc trực tuyến của người dân tăng lên rõ rệt. Nhiều khóa tập huấn phổ cập kỹ năng số được các bộ, ngành, địa phương tổ chức cho cán bộ, người dân. Nhà nước cũng ban hành Bộ Quy tắc ứng xử trên mạng xã hội (Quyết định 874/QĐ-BTTTT ngày 17/6/2021) nhằm hướng dẫn người dân ứng xử văn minh, an toàn trên không gian mạng. Có thể nói, những bước đi này đã bước đầu hình thành ý thức “công dân số” trong cộng đồng, khuyến khích hành vi tích cực và ngăn chặn hành vi phản văn hóa, vi phạm pháp luật trên môi trường mạng.

 

Hạn chế, tồn tại: Bên cạnh kết quả, thực trạng xây dựng văn hoá, con người thời CĐS vẫn còn nhiều hạn chế: (1) Nhận thức xã hội về văn hoá số chưa thực sự sâu sắc, tâm lý ngại thay đổi còn phổ biến trong một bộ phận, dẫn đến chuyển đổi số văn hoá chưa đồng bộ. (2) Nguồn nhân lực văn hoá am hiểu công nghệ còn thiếu về số lượng và yếu về chất lượng, đòi hỏi đầu tư đào tạo nhiều hơn. (3) Nội dung số “made in Vietnam” chưa phong phú, hấp dẫn đủ để cạnh tranh với làn sóng nội dung ngoại; vấn nạn vi phạm bản quyền trên mạng vẫn nhức nhối, làm nản lòng người sáng tạo. (4) Hệ thống cơ sở hạ tầng và đầu tư cho văn hoá số chưa tương xứng; kinh phí dành cho chuyển đổi số lĩnh vực văn hoá, nghệ thuật còn hạn hẹp so với nhu cầu. (5) Việc xây dựng hệ giá trị văn hoá và chuẩn mực con người Việt Nam thời kỳ mới còn chậm được làm rõ, thiếu các tiêu chí định lượng để đánh giá hiệu quả chính sách văn hoá trong bối cảnh mới. (6) Sự phối hợp giữa các cơ quan, địa phương và doanh nghiệp trong triển khai văn hoá số đôi lúc chưa chặt chẽ; nhiều sáng kiến rời rạc, thiếu tầm nhìn chung.

 

Những hạn chế trên đòi hỏi phải có giải pháp đồng bộ, căn cơ hơn trong thời gian tới để thực sự đưa văn hoá, con người Việt Nam “chuyển mình” trong kỷ nguyên số.

 

4. Định hướng và giải pháp xây dựng văn hoá, con người Việt Nam trong kỷ nguyên số

 

Trước bối cảnh và thực trạng nêu trên, việc xây dựng văn hoá, con người Việt Nam trong thời kỳ chuyển đổi số cần bám sát các định hướng lớn của Đảng, đồng thời sáng tạo những giải pháp cụ thể, thiết thực. Dưới đây là một số định hướng và nhóm giải pháp trọng tâm:

 

4.1. Xây dựng môi trường văn hoá số lành mạnh, an toàn

 

Môi trường văn hoá số bao gồm toàn bộ không gian trực tuyến nơi con người Việt Nam tương tác, sáng tạo và thụ hưởng giá trị văn hoá. Xây dựng môi trường này là nhiệm vụ hàng đầu để văn hoá số phát triển bền vững. Các giải pháp cụ thể gồm:

 

1) Hoàn thiện khung pháp lý và quy tắc ứng xử: Nhà nước sớm ban hành và thực thi nghiêm các quy định về quản lý, sử dụng không gian mạng một cách văn minh, an toàn. Năm 2021, Nhà nước đã ban hành Bộ Quy tắc ứng xử trên mạng xã hội, cần tiếp tục phổ biến và cập nhật phù hợp thực tiễn. Song song, cần xây dựng bộ tiêu chí đánh giá văn hoá số và chế tài xử lý hành vi phản văn hoá, vi phạm pháp luật trên không gian mạng.

 

2) Giáo dục ý thức và kỹ năng số cho người dân: Đưa nội dung giáo dục về văn hoá số, đạo đức số vào chương trình giáo dục phổ thông và các chương trình truyền thông cộng đồng. Mỗi công dân, đặc biệt là thế hệ trẻ, cần được trang bị kỹ năng tư duy phản biện trước thông tin mạng, kỹ năng tự bảo vệ dữ liệu cá nhân, và thái độ tôn trọng những chuẩn mực ứng xử trực tuyến (tôn trọng sự khác biệt, không xúc phạm, kỳ thị…). Cần phát động các phong trào, chiến dịch trên mạng xã hội để cổ vũ lối sống đẹp, nhân văn, lan tỏa các giá trị tích cực.

 

3) Kiểm soát và sàng lọc nội dung số xấu độc: Tăng cường công cụ kỹ thuật và nhân lực để giám sát, xử lý kịp thời các nội dung vi phạm trên không gian mạng (tin giả, kích động bạo lực, đồi trụy…). Phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý với các nền tảng số (Facebook, YouTube…) nhằm gỡ bỏ nhanh nội dung vi phạm thuần phong mỹ tục, văn hoá Việt Nam. Đồng thời, khuyến khích phát triển nền tảng số “sạch” của Việt Nam, nơi người dùng được bảo vệ tốt hơn và dễ dàng tiếp cận nội dung lành mạnh.

 

4) Phát huy vai trò cộng đồng và gia đình: Môi trường văn hoá số không tách rời môi trường xã hội thực. Gia đình, nhà trường và các đoàn thể cần quan tâm định hướng việc sử dụng công nghệ của giới trẻ. Cha mẹ và thầy cô nên đồng hành, hướng dẫn con em sử dụng Internet hữu ích, quản lý thời gian trực tuyến hợp lý. Cộng đồng (tổ dân phố, thôn bản) có thể xây dựng những hương ước, quy ước văn hoá liên quan đến việc ứng xử trên mạng, coi đó là một nội dung của phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” trong thời đại mới.

 

Xây dựng môi trường văn hoá số chính là tạo “hệ sinh thái” thuận lợi để cái đẹp, cái thiện nảy nở, còn cái xấu, cái ác không có đất dung dưỡng. Môi trường lành mạnh sẽ nuôi dưỡng nhân cách con người Việt Nam thời đại số, đồng thời giúp văn hoá dân tộc thăng hoa trên nền tảng công nghệ.

 

 

4.2. Bảo tồn và phát huy văn hoá dân tộc thông qua công nghệ

 

Giữ gìn bản sắc văn hoá Việt Nam trong kỷ nguyên số vừa là mục tiêu, vừa là phương thức để văn hoá nước nhà đóng góp vào dòng chảy văn minh nhân loại. Một số giải pháp trọng tâm:

 

1) Đẩy mạnh số hoá di sản văn hoá: Tiếp tục đầu tư cho chương trình số hoá di sản đến 2030, đảm bảo đạt mục tiêu tất cả các di sản văn hoá trọng điểm được lưu trữ dưới dạng số. Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về di sản văn hoá thống nhất từ trung ương tới địa phương, với hệ quản trị hiện đại để lưu trữ, cập nhật, khai thác hiệu quả kho dữ liệu này. Mỗi bảo tàng, di tích lớn cần có bản số hoá 3D và tour tham quan ảo trực tuyến, giúp công chúng trong và ngoài nước có thể khám phá từ xa. Khi số hoá, phải tuân thủ nghiêm nguyên tắc bảo đảm tính nguyên gốc, toàn vẹn của di sản. Ví dụ hình ảnh, tư liệu số phải phản ánh chính xác đặc điểm, giá trị di sản, không tùy tiện thêm bớt gây sai lệch.

 

2) Ứng dụng công nghệ mới vào bảo tồn, truyền bá văn hoá: Khuyến khích các dự án ứng dụng AI, thực tế ảo (VR), thực tế tăng cường (AR) để phục dựng, bảo tồn văn hoá phi vật thể (lễ hội, diễn xướng dân gian…) và trình diễn cho thế hệ trẻ. Chẳng hạn, dùng công nghệ AR để người xem có thể tương tác với hình ảnh 3D của nhạc cụ, trang phục truyền thống; hay xây dựng trò chơi điện tử dựa trên tích truyện, lịch sử Việt Nam nhằm giáo dục văn hoá một cách hấp dẫn. Các tour du lịch ảo về danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử nổi tiếng cũng nên được phát triển, đặc biệt hướng tới kiều bào và bạn bè quốc tế, qua đó quảng bá vẻ đẹp văn hoá Việt một cách sáng tạo.

 

3) Phát huy giá trị di sản trong đời sống đương đại: Số hoá không chỉ để lưu trữ, mà quan trọng hơn là đưa di sản “sống” trong cuộc sống hiện tại. Cần tạo điều kiện cho các doanh nghiệp khởi nghiệp khai thác dữ liệu di sản số để phát triển sản phẩm dịch vụ văn hoá. Ví dụ thiết kế sản phẩm du lịch thông minh sử dụng chất liệu từ di sản (ứng dụng thuyết minh tự động, bản đồ di sản số, game tương tác tại điểm di tích…). Một khi di sản được phổ biến rộng rãi và gắn với lợi ích kinh tế, cộng đồng sẽ có ý thức hơn trong việc giữ gìn, tự hào về di sản của mình.

 

4) Bảo tồn văn hoá truyền thống trong cộng đồng số: Dù công nghệ phát triển, các hình thức sinh hoạt văn hoá truyền thống (lễ hội, làn điệu dân ca, nghề thủ công…) vẫn cần được duy trì trong cộng đồng thực và đồng thời quảng bá trên môi trường số. Tổ chức các cuộc thi, sự kiện trực tuyến về tìm hiểu văn hoá dân tộc, hoặc các diễn đàn trên mạng quy tụ các nghệ nhân, nhà nghiên cứu, giới trẻ để trao đổi về văn hoá truyền thống. Qua đó, những giá trị tốt đẹp như lòng yêu nước, tình làng nghĩa xóm, hiếu thảo, cần cù… được lan tỏa và “chuyển hoá” vào lối sống thời đại mới.

 

4.3. Phát triển các ngành công nghiệp văn hoá và nội dung số “Make in Vietnam”

 

Công nghiệp văn hoá kết hợp với công nghệ số sẽ tạo ra sức bật cho kinh tế Việt Nam đồng thời truyền bá hiệu quả văn hoá dân tộc. Để phát triển lĩnh vực này trong nước, cần tập trung:

 

1) Ươm mầm và hỗ trợ các tài năng sáng tạo nội dung số: Xác định con người là yếu tố quyết định trong công nghiệp sáng tạo, cho nên các chính sách phát triển nhân lực văn hoá phải nhân văn, linh hoạt và đúng tầm giá trị, cần phát hiện, đào tạo bài bản và đãi ngộ xứng đáng để tài năng văn hoá phát triển bền vững. Vì vậy, Nhà nước và xã hội cần tạo nhiều sân chơi, học bổng, quỹ hỗ trợ cho giới trẻ đam mê lĩnh vực sáng tạo nội dung số (điện ảnh, âm nhạc, thiết kế, truyền thông số, game…). Các trung tâm ươm tạo sáng tạo (creative hubs) nên được thành lập hoặc hỗ trợ, nơi các bạn trẻ được cung cấp trang thiết bị, mentor để thử nghiệm ý tưởng mới. Song song, xây dựng giải thưởng quốc gia tôn vinh những sản phẩm văn hoá số xuất sắc, khuyến khích cạnh tranh lành mạnh và sáng tạo không ngừng.

 

2) Bảo vệ bản quyền và khuyến khích sáng tạo: Một môi trường tôn trọng sở hữu trí tuệ sẽ thúc đẩy người sáng tác cống hiến hết mình. Cần thực thi hiệu quả các quy định pháp luật về bản quyền số; ứng dụng công nghệ tiên tiến (AI, blockchain) để hỗ trợ giám sát, phát hiện vi phạm bản quyền trên không gian mạng. Đồng thời, đẩy nhanh việc gia nhập các điều ước quốc tế về quyền tác giả để bảo hộ tốt hơn cho sản phẩm trí tuệ của người Việt trên phạm vi toàn cầu. Mặt khác, có chính sách khuyến khích sáng tạo nội dung sạch, như hỗ trợ thuế cho doanh nghiệp sản xuất phim tài liệu lịch sử, miễn giảm chi phí phổ biến tác phẩm nghệ thuật truyền thống qua nền tảng số… Những chính sách “thưởng - phạt” phân minh sẽ tạo động lực nâng cao chất lượng và tính độc đáo của nội dung văn hoá số Việt.

 

3) Xây dựng thương hiệu văn hoá Việt trên thị trường số: Chủ động quảng bá các sản phẩm văn hoá số Việt Nam ra thế giới. Tổ chức những tuần lễ phim Việt trực tuyến, liên hoan nghệ thuật số quốc tế tại Việt Nam, mời gọi sự tham gia của bạn bè năm châu. Tận dụng mạng xã hội, YouTube, TikTok… để quảng bá có chiến lược cho âm nhạc, ẩm thực, du lịch, con người Việt Nam. Chẳng hạn, phát triển hệ thống kênh truyền thông đa ngôn ngữ, đa nền tảng để đưa nội dung văn hóa - du lịch Việt đến các thị trường mục tiêu, hiện thực hóa Chiến lược Marketing du lịch quốc gia đến 2030. Mỗi sản phẩm văn hoá số Việt (một bộ phim, bài hát, trò chơi) thành công ở quốc tế sẽ góp phần định vị thương hiệu văn hoá Việt Nam trên bản đồ số toàn cầu.

 

4) Kết hợp văn hoá với các lĩnh vực kinh tế mới: Xu hướng “liên ngành” trong thời đại số đòi hỏi chúng ta sáng tạo ra những mô hình kinh doanh mới kết hợp văn hoá với công nghệ và các ngành khác. Ví dụ: phát triển du lịch thông minh về đêm tại các đô thị, kết hợp biểu diễn văn hoá nghệ thuật truyền thống với công nghệ trình chiếu hiện đại để thu hút du khách (theo mô hình kinh tế đêm); phát triển kinh tế eSports khi trò chơi thể thao điện tử vừa là ngành giải trí vừa gắn với văn hoá của giới trẻ. Việt Nam đã có bộ môn eSports (Audition) giành huy chương tại SEA Games 33, cần tiếp tục hỗ trợ để eSports trở thành ngành công nghiệp quy mô lớn, nâng cao vị thế Việt Nam. Ngoài ra, có thể khai thác kinh tế di sản: bán bản quyền dữ liệu di sản số cho các hãng phim, hãng game quốc tế sử dụng trong sản phẩm của họ, vừa thu ngoại tệ vừa quảng bá văn hoá. Tóm lại, cần tư duy mở để tích hợp văn hoá vào các hệ sinh thái số kinh tế đa dạng.

 

5) Minh bạch hoá và bền vững hoá thị trường văn hoá số: Xây dựng một môi trường kinh doanh minh bạch, cạnh tranh lành mạnh cho các doanh nghiệp văn hoá số hoạt động. Nhà nước kết hợp cùng doanh nghiệp thiết lập những chợ nội dung số tin cậy (platform giao dịch bản quyền, sàn phân phối sản phẩm số trong nước), hạn chế tình trạng vi phạm bản quyền tràn lan. Bên cạnh đó, cần có tầm nhìn dài hạn phát triển công nghiệp văn hoá số gắn với bảo vệ giá trị văn hoá cốt lõi. Văn hoá số Việt Nam phải phong phú về nội dung nhưng không chạy theo lợi nhuận thuần tuý mà xem nhẹ giá trị giáo dục, nhân văn. Muốn vậy, công tác quản lý nhà nước cần song hành cùng sự tự giác của cộng đồng doanh nghiệp, nghệ sĩ trong việc đề cao trách nhiệm xã hội và bản sắc dân tộc.

 

4.4. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và phát triển con người Việt Nam thời đại số

 

 

Chuyển đổi số thực chất là chuyển đổi con người, từ nhận thức, kỹ năng đến phẩm chất. Do đó, xây dựng con người Việt Nam đáp ứng kỷ nguyên số là trọng tâm song hành cùng xây dựng văn hoá. Giải pháp tập trung vào hai khía cạnh: nâng cao trí lực, kỹ năng và bồi đắp tâm lực, phẩm chất cho con người.

 

1) Đổi mới giáo dục đào tạo: Tiếp tục đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục theo hướng tích hợp chặt chẽ khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Hệ thống giáo dục cần trang bị cho thế hệ trẻ một nền tảng kỹ năng vững vàng: từ kỹ năng công nghệ thông tin, phân tích dữ liệu, ngoại ngữ cho đến các kỹ năng mềm như giải quyết vấn đề, làm việc nhóm từ xa. Song song, phải đặc biệt coi trọng giáo dục giá trị văn hoá, đạo đức, lối sống trong nhà trường. Mục tiêu là đào tạo những công dân số nhưng thấm đượm tinh thần dân tộc và nhân văn. Mỗi học sinh, sinh viên vừa giỏi chuyên môn hiện đại, vừa hiểu biết sâu sắc về lịch sử, văn hoá nước nhà, có khả năng trở thành sứ giả quảng bá văn hoá Việt trong môi trường toàn cầu.

 

2) Phát triển kỹ năng số cho mọi tầng lớp nhân dân: Thực hiện các chương trình phổ cập kỹ năng số tới người dân, nhất là ở vùng nông thôn, miền núi, người cao tuổi. Mở các lớp tập huấn tại cộng đồng về kỹ năng sử dụng smartphone, Internet an toàn, kỹ năng tìm kiếm thông tin, giao dịch công trực tuyến… giúp người dân tự tin tham gia xã hội số. Đặc biệt, với nông dân và đồng bào dân tộc thiểu số, cần kết hợp phổ cập công nghệ thông tin với phổ biến tiếng phổ thông, ngoại ngữ để họ không bị lạc hậu trong bối cảnh mới. Đây vừa là mục tiêu phát triển con người, vừa góp phần thu hẹp khoảng cách số, đảm bảo công bằng xã hội.

 

3) Đào tạo nguồn nhân lực văn hoá chất lượng cao: Ngành văn hoá, nghệ thuật cần được ưu tiên phát triển đội ngũ cán bộ, nghệ sĩ “vừa hồng vừa chuyên” trong thời kỳ số. Đầu tư hiện đại hoá các cơ sở đào tạo văn hoá, nghệ thuật; cập nhật giáo trình về quản lý văn hoá, bảo tàng, thư viện… để bổ sung kiến thức về công nghệ số. Tăng cường các khóa bồi dưỡng ngắn hạn cho cán bộ văn hoá ở địa phương về kỹ năng chuyển đổi số (như quản trị cơ sở dữ liệu di sản, marketing số cho du lịch văn hoá…). Tuyển dụng và trọng dụng nhân tài công nghệ trong lĩnh vực văn hoá. Ví dụ chuyên gia về bảo tàng số, chuyên gia thiết kế trải nghiệm thực tế ảo tại di tích, để những người giỏi nhất cùng chung tay đưa văn hoá Việt vào kỷ nguyên số. Song song, có chính sách đãi ngộ đặc thù (lương, phụ cấp, môi trường sáng tạo) để giữ chân nhân tài gắn bó phụng sự lĩnh vực văn hoá.

 

4) Bồi dưỡng phẩm chất, lối sống con người Việt Nam thời đại mới: Nếu tri thức, kỹ năng là “phần cứng” thì phẩm chất, lối sống là “phần mềm” quyết định chất lượng con người Việt Nam. Trong thời đại số, cần tiếp tục kế thừa và phát huy hệ giá trị con người Việt Nam đã được hun đúc qua lịch sử, đồng thời bổ sung những phẩm chất mới cho phù hợp. Đảng ta xác định mục tiêu “phát triển toàn diện con người Việt Nam về đạo đức, trí tuệ, ý thức dân tộc, trách nhiệm công dân, năng lực sáng tạo, thể lực, kỹ năng sống, kỹ năng nghề nghiệp”[9]. Do vậy, bên cạnh việc nâng cao trí tuệ, thể lực bằng khoa học công nghệ, chúng ta phải song hành xây dựng bản lĩnh, nhân cách con người. Mỗi người Việt cần được bồi dưỡng lòng yêu nước, tự hào dân tộc trong môi trường hội nhập số; giữ vững phẩm chất chăm chỉ, sáng tạo, nghĩa tình của cha ông, đồng thời rèn luyện tác phong kỷ luật, chuyên nghiệp, tôn trọng đa dạng theo chuẩn mực công dân toàn cầu.

 

5) Khơi dậy khát vọng cống hiến trong mỗi cá nhân: Chuyển đổi số quốc gia suy cho cùng là để phục vụ con người và cần sự tham gia chủ động của con người. Cần lan tỏa tinh thần “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” trong mỗi người dân thời đại số. Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV khẳng định; “Khơi dậy mạnh mẽ truyền thống yêu nước, khát vọng phát triển, tinh thần đoàn kết, ý chí tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc; phát huy sức mạnh văn hoá, con người thành nguồn lực nội sinh và động lực mạnh mẽ cho sự phát triển”[10]. Mỗi người dân, dù ở cương vị nào, cũng nên được cổ vũ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm trước những ý tưởng đổi mới vì cộng đồng. Các phong trào thi đua trong thời kỳ mới nên gắn với chuyển đổi số. Ví dụ phong trào “Sáng tạo trẻ” trong thanh niên, “Người nông dân số” trong nông dân để ai nấy đều hăng hái đóng góp sáng kiến cho tập thể. Khi từng cá nhân tỏa sáng tinh thần cống hiến trên nền tảng tri thức số, đó chính là lúc văn hoá số trở thành động lực mạnh mẽ thúc đẩy chuyển đổi số thành công.

 

6) Chăm lo sự phát triển hài hoá của con người: Chuyển đổi số giúp nâng cao đời sống vật chất nhưng cũng tiềm ẩn nguy cơ con người bị cuốn theo guồng quay công nghệ mà mệt mỏi, đánh mất giá trị tinh thần. Do vậy, cần chú trọng các hoạt động chăm sóc đời sống văn hoá, tinh thần cho người dân trong môi trường số. Phát triển các ứng dụng hỗ trợ sức khỏe tinh thần, kết nối cộng đồng; khuyến khích mỗi người dành thời gian cho các hoạt động văn hoá, nghệ thuật, thể thao ngoài đời thực để giữ cân bằng. Bảo đảm an sinh xã hội, không để ai bị bỏ lại phía sau trong tiến trình chuyển đổi số, đó cũng chính là thước đo văn hoá của một xã hội văn minh, nghĩa tình.

 

4.5. Hoàn thiện cơ chế quản lý và huy động nguồn lực cho phát triển văn hoá, con người trong chuyển đổi số

 

Để các giải pháp trên phát huy hiệu quả, một yếu tố mang tính quyết định là cơ chế chính sách và nguồn lực:

 

1) Đưa nội dung văn hoá, con người vào mọi chiến lược số: Trong quá trình triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW (2024) của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, cần cụ thể hóa các nhiệm vụ liên quan đến phát triển văn hoá và con người. Mọi đề án chuyển đổi số cấp quốc gia hay địa phương (về chính phủ số, kinh tế số, đô thị thông minh…) đều nên có một phần đánh giá tác động văn hoá - xã hội và các giải pháp đi kèm để phát huy yếu tố văn hoá, con người. Điều này bảo đảm chuyển đổi số hướng tới con người, vì con người, tránh tình trạng coi nhẹ yếu tố nhân văn.

 

Tăng đầu tư cho văn hoá và giáo dục: Ngân sách nhà nước cần ưu tiên hơn cho các dự án số hoá văn hoá, hiện đại hoá thiết chế văn hoá (thư viện, nhà văn hoá, rạp chiếu phim…) và đổi mới giáo dục. Đồng thời, đẩy mạnh xã hội hoá – tạo hành lang cho tư nhân, tổ chức quốc tế đầu tư vào lĩnh vực văn hoá số, ví dụ tài trợ số hoá bảo tàng, mở trường đào tạo nhân lực số… Các đối tác công tư (PPP) nên được khuyến khích để bổ sung nguồn lực và kinh nghiệm quản trị cho ngành văn hoá trong kỷ nguyên số.

 

Thể chế hóa các giá trị và mục tiêu phát triển văn hoá, con người: Nhanh chóng xây dựng hệ thống chỉ tiêu đo lường sự phát triển văn hoá số và con người số. Chẳng hạn, tỷ lệ người dân tham gia các hoạt động văn hoá trực tuyến, mức độ hài lòng của người dân về dịch vụ văn hoá công, số lượng sản phẩm văn hoá số chất lượng cao hàng năm… . Các chỉ tiêu này cần được đưa vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội để theo dõi, đánh giá và điều chỉnh chính sách kịp thời. Song song, sớm hoàn thiện hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hoá và chuẩn mực con người Việt Nam trong giai đoạn mới, làm cơ sở định hướng cho toàn xã hội phấn đấu.

 

Phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội, nghề nghiệp: Hội Liên hiệp Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Nghệ sĩ, Hội Khoa học kỹ thuật… cần nhập cuộc tích cực trong công cuộc xây dựng văn hoá, con người thời số. Ví dụ, Đoàn Thanh niên có thể chủ trì các cuộc thi lập trình game mang nội dung lịch sử Việt; Hội Nghệ sĩ thúc đẩy phong trào sáng tác tác phẩm nghệ thuật phản ánh đời sống số; Hội Khoa học tổ chức diễn đàn kết nối nhà khoa học với nhà quản lý văn hoá… Sự chung tay của các giới sẽ tạo sức mạnh tổng hợp, vừa huy động chất xám xã hội, vừa lan tỏa nhận thức đúng đắn về văn hoá số trong cộng đồng.

 

Học hỏi kinh nghiệm quốc tế và hợp tác toàn cầu: Chủ động tham gia các mạng lưới, diễn đàn quốc tế về chuyển đổi số và văn hoá (như Diễn đàn văn hoá thế giới, UNESCO về văn hoá số…). Trao đổi, học tập kinh nghiệm từ các nước đã thành công trong bảo tồn văn hoá bằng công nghệ (Nhật Bản với bảo tàng số, Hàn Quốc với làn sóng Hallyu số…). Mặt khác, đóng góp tiếng nói của Việt Nam về bảo vệ sự đa dạng văn hoá trong kỷ nguyên số, cùng quốc tế đấu tranh chống lại sự đồng hóa văn hoá, bảo vệ các nền văn hoá bản địa trước sức ép toàn cầu hoá. Hợp tác toàn cầu cũng giúp chúng ta tiếp cận nguồn lực quốc tế (vốn ODA, chuyên gia nước ngoài, quỹ sáng tạo…) cho các dự án phát triển văn hoá và con người trong nước.

 

Kết luận

 

Xây dựng văn hoá và con người Việt Nam trong thời kỳ chuyển đổi số quốc gia vừa là nhiệm vụ cấp bách, vừa là sự nghiệp lâu dài, đòi hỏi quyết tâm chính trị lớn và sự chung sức của toàn xã hội. Từ phân tích trên có thể thấy, chuyển đổi số không chỉ là bài toán công nghệ mà cốt lõi là bài toán con người và văn hoá. Nếu chúng ta chuẩn bị tốt nền tảng văn hoá, phát triển con người Việt Nam toàn diện, thì công cuộc chuyển đổi số sẽ có điểm tựa vững chắc về tinh thần và nguồn lực trí tuệ để đi đến thành công.

 

Trong tương lai gần, hy vọng sẽ hình thành một hệ sinh thái văn hoá số Việt Nam phong phú, đậm đà bản sắc, nơi mỗi người dân vừa là chủ thể sáng tạo vừa là người thụ hưởng văn hoá một cách văn minh. Văn hoá Việt Nam khi đó thực sự trở thành nguồn lực nội sinh mạnh mẽ đóng góp cho phát triển đất nước , đồng thời đóng góp vào kho tàng văn minh chung của nhân loại. Con người Việt Nam thời đại số sẽ mang trong mình “tâm hồn Việt Nam” kết tinh những giá trị ngàn đời, và “trí tuệ số” của công dân toàn cầu, tự tin sánh vai cùng các cường quốc năm châu trong kỷ nguyên số.

 

TS. Nguyễn Tiến Thư*

 

Tài liệu tham khảo:

  1. Hồ Chí Minh: Về văn hóa, Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 1997, tr.11
  2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2014). Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, Nxb Chính trị quốc gia.
  3. Toàn văn bài phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị văn hóa toàn quốc năm 2021, https://vietnamnet.vn/toan-van-bai-phat-bieu-cua-tong-bi-thu-tai-hoi-nghi-van-hoa-toan-quoc-795986.html, đăng ngày 25/11/2021
  4. Vũ Quỳnh Trang: Chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa. Báo Nhân dân, https://nhandan.vn/chuyen-doi-so-trong-linh-vuc-van-hoa-post773198.html, đăng ngày 19/9/2023
  5. Cổng Thông tin điện tử Quảng Ninh: Chuyển đổi số - Thúc đẩy phát triển văn hóa, https://dangcongsan.vn/quangninh/tin-tuc-hoat-dong/chuyen-doi-so-thuc-day-phat-trien-van-hoa.html, đăng ngày 8/10/2025
  6. Cổng thông tin điện tử Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch: Ký kết hợp tác phát triển văn hóa số và bảo hộ bản quyền, https://bvhttdl.gov.vn/ky-ket-hop-tac-phat-trien-van-hoa-so-va-bao-ho-ban-quyen-20251103162914295.htm, đăng ngày 3/11/2025
  7. Đảng Cộng sản Việt Nam: Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Hà Nội, ngày 15/10/2025.


* Phó Viện trưởng Viện Văn hóa và Phát triển, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

[1] Hồ Chí Minh: Về văn hóa, Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 1997, tr.11

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam (2014). Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, Nxb Chính trị quốc gia.

[3] Toàn văn bài phát biểu của Tổng Bí thư tại hội nghị văn hóa toàn quốc, https://vietnamnet.vn/toan-van-bai-phat-bieu-cua-tong-bi-thu-tai-hoi-nghi-van-hoa-toan-quoc-795986.html, đăng ngày 25/11/2021

 

[4] Vũ Quỳnh Trang: Chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa. Báo Nhân dân, https://nhandan.vn/chuyen-doi-so-trong-linh-vuc-van-hoa-post773198.html, đăng ngày 19/9/2023

[5] Cổng Thông tin điện tử Quảng Ninh: Chuyển đổi số - Thúc đẩy phát triển văn hóa, https://dangcongsan.vn/quangninh/tin-tuc-hoat-dong/chuyen-doi-so-thuc-day-phat-trien-van-hoa.html, đăng ngày 8/10/2025

[6] Cổng Thông tin điện tử Quảng Ninh: Chuyển đổi số - Thúc đẩy phát triển văn hóa, https://dangcongsan.vn/quangninh/tin-tuc-hoat-dong/chuyen-doi-so-thuc-day-phat-trien-van-hoa.html, đăng ngày 8/10/2025

[7] Cổng Thông tin điện tử Quảng Ninh: Chuyển đổi số - Thúc đẩy phát triển văn hóa, https://dangcongsan.vn/quangninh/tin-tuc-hoat-dong/chuyen-doi-so-thuc-day-phat-trien-van-hoa.html, đăng ngày 8/10/2025

[8] Cổng thông tin điện tử Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch: Ký kết hợp tác phát triển văn hóa số và bảo hộ bản quyền, https://bvhttdl.gov.vn/ky-ket-hop-tac-phat-trien-van-hoa-so-va-bao-ho-ban-quyen-20251103162914295.htm, đăng ngày 3/11/2025

[9] Đảng Cộng sản Việt Nam: Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Hà Nội, ngày 15/10/2025.

[10] Đảng Cộng sản Việt Nam: Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Hà Nội, ngày 15/10/2025.

Tin Liên quan

Góp ý về nội dung bài viết