Thứ Bảy, ngày 18 tháng 09 năm 2021

Kiến nghị của đề tài "Đổi mới chính trị đồng bộ, phù hợp với đổi mới kinh tế ở nước ta hiện nay: Thực trạng, quan điểm và định hướng chính sách"

Ngày phát hành: 16/06/2021 Lượt xem 927

Đề tài "Đổi mới chính trị đồng bộ, phù hợp với đổi mới kinh tế ở nước ta hiện nay: Thực trạng, quan điểm và định hướng chính sách". Mã số KX.04.02/16-20, do PGS.TS Nguyễn Văn Vĩnh, Viện chính trị học, Học viện CTQGHCM làm chủ nhiệm đã bảo vệ thành công. Dưới đây là một số kiến nghị của Đề tài.

 

1. Kiến nghị hợp nhất một số chức danh

 

1.1. Nhận thức đúng đắn việc nhất thể hóa hay hợp nhất

 

Việc hợp nhất có thể tiến hành theo 3 mức độ: hợp nhất chức năng, hợp nhất chức danh và hợp nhất tổ chức, tùy thuộc vào đặc điểm từng cơ quan và từng giai đoạn cụ thể. Thuật ngữ “nhất thể hóa bộ máy”, “nhất thể hóa chức danh” là hai thuật ngữ được nhắc tới trong 10 năm gần đây trong các nghiên cứu và thảo luận chính trị. Chúng tôi cho rằng, không nên dùng từ “nhất thể hóa” vì việc hợp nhất này chỉ trong phạm vi “các bộ phận” có cùng chức năng mang tính quyền lực đối với toàn bộ xã hội của Đảng và Nhà nước. Trong thực tế, đây chính các bộ phận do Đảng lãnh đạo trực tiếp, toàn diện và tuyệt đối, nhưng đồng thời, cũng do Nhà nước quản lý và cấp ngân sách.

Nhất thể hóa phải được hiểu là việc Đảng hóa thân vào Nhà nước, chứ không phải là việc Đảng kiêm nhiệm các chức danh của Nhà nước. Khi Đảng hóa thân vào Nhà nước thì quy trình chính sách chỉ còn diễn ra ở một nơi, khi Đảng kiêm nhiệm các chức danh Nhà nước thì quy trình chính sách vẫn diễn ra ở cả hai nơi - vừa diễn ra ở bên Đảng, vừa diễn ra ở bên Nhà nước (các nhà nghiên cứu gọi là mô hình nhà nước đảng - một trong những hạn chế của việc tổ chức bộ máy nhà nước theo mô hình xô - viết).

Cần phải nhận thức rằng, Đảng hóa thân vào Nhà nước với mục đích là để thực hiện vai trò cầm quyền của Đảng; để thực hiện mục tiêu, cương lĩnh của mình. Thực tế, hệ thống chính trị của bất cứ quốc gia nào hiện nay cũng đều có các bộ phận cấu thành cơ bản, đó là đảng chính trị, nhà nước, các tổ chức xã hội. Mỗi thành tố này đều có quyền lực chính trị nhất định: quyền lực chính trị của đảng; quyền lực của nhà nước; quyền lực của tổ chức xã hội. Đối với đảng cầm quyền thì ngoài quyền tranh cử, nó còn có quyền lực chi phối, định hướng đối với nhà nước để thực hiện cương lĩnh, mục tiêu của đảng đó. Việc chi phối, định hướng đối với nhà nước của đảng cầm quyền được diễn ra với các hình thức khác nhau nhưng có hai hình thức chủ yếu:

(1) Đảng cầm quyền với hình thức như một chủ thể đứng bên ngoài nhà nước thực hiện vai trò lãnh đạo thông qua các nghị quyết, chỉ thị các cấp của đảng để chi phối, định hướng đối với nhà nước, chính quyền, cách thức này được áp dụng ở một số nước có hệ thống chính trị theo mô hình xô-viết;

(2) Đảng cầm quyền với hình thức gồm các cá nhân đảng viên ưu tú đứng bên trong nhà nước trực tiếp lãnh đạo và quản lý, vừa xây dựng, ban hành, đồng thời thực thi các quyết định, chính sách của nhà nước tùy theo chức năng nhiệm vụ của mình, từ đó mà chi phối, định hướng đối với nhà nước. Đây là hình thức cầm quyền được áp dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới được các nhà khoa học xác định là đảng chính trị sau khi giành được địa vị cầm quyền đã "hóa thân" vào nhà nước để thực hiện vai trò cầm quyền của mình.

Tiếp tục đổi mới sự lãnh đạo của Đảng trong quá trình đổi mới hệ thống chính trị là yêu cầu cấp thiết hiện nay, trong đó, vấn đề đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước là trọng tâm. Tuy nhiên, thực tế trong nhiều năm qua, mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu tìm biện pháp đổi mới, nhưng chúng ta vẫn còn lúng túng trong vấn đề này. Từ những phân tích trên, có thể thấy rằng, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước mà Đảng ta nêu ra chính là một khái niệm khác của phương thức cầm quyền của Đảng. Bởi theo thông lệ trên thế giới thì đây chỉ là cách thức giải quyết mang tính kỹ thuật mối quan hệ giữa đảng chính trị với nhà nước sau khi đảng đã giành được vị thế cầm quyền. Hiện nay, khái niệm "đảng lãnh đạo nhà nước" lại không được sử dụng ở các nước. Bất cứ trong nhà nước hiện đại nào cũng đều phải có sự cầm quyền của một đảng hay liên minh các đảng chính trị. Ở nhiều nước, các đảng chính trị sau khi thắng cử đều phải hóa thân vào nhà nước để thực hiện vai trò cầm quyền của mình, tức đảng không đứng tách riêng ra như dạng có hai chủ thể (cả đảng và nhà nước) cùng thực hiện vai trò cầm quyền. Ở Việt Nam, trong quá trình thực hiện vai trò cầm quyền, Đảng đã không theo một thông lệ như vậy. Do đó, thực tế đã cho thấy có khá nhiều bất cập, khó khăn và hiệu quả không cao cho việc cầm quyền của Đảng mà điểm dễ nhận thấy nhất đó là sự chồng chéo về chức năng và sự cồng kềnh về bộ máy.

 

1.2. Kiến nghị hợp nhất một số tổ chức và chức danh trong bộ máy Đảng và Nhà nước

 

Việc hợp nhất về tổ chức của các bộ phận quyền lực đương nhiên sẽ dẫn tới hợp nhất chức danh lãnh đạo cũng như hợp nhất chức năng của các chức danh đó và loại trừ các mâu thuẫn và không nhất quán. Nếu nhìn nhận như vậy có thể thấy hợp nhất tổ chức là cấp độ cao nhất, và hợp nhất chức danh, hợp nhất chức năng, nhiệm vụ là cấp độ giữa và thấp nhất. Sự hợp nhất có thể tiến hành dần từ cấp độ thấp lên cao, hoặc từ cấp độ giữa lên cao tùy thuộc vào bối cảnh, và đều cần được coi là các hoàn thiện NNPQ quan trọng.

Cải cách đầu tiên là nhất thể hóa bộ máy Đảng, Nhà nước, MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội theo hướng gọn nhẹ, hiệu quả, hiệu lực. Chúng ta tổ chức hệ thống chính trị theo mô hình xô - viết, điều này hình thành nên cơ chế song trùng trong hoạch định chính sách, nó tạo ra chồng chéo, làm gia tăng chi phí và vô hiệu hóa chế độ trách nhiệm. Xét về mặt kỹ trị, hợp nhất giữa Đảng và Nhà nước có thể là cải cách chính trị quan trọng nhất hiện nay. Những cải cách theo xu hướng này vừa tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, vừa giúp khắc phục được những hạn chế rất lớn của mô hình quản trị quốc gia xô-viết, theo đó Đảng đảm nhiệm rất nhiều chức năng của Nhà nước nhưng lại đứng ngoài Nhà nước.

Trên thế giới hiện nay, các nước theo mô hình xô-viết còn lại không nhiều. Ở hầu hết các nước trên thế giới, khi một đảng chính trị giành được vị trí cầm quyền, đảng đều phải hóa thân vào nhà nước để thực hiện vai trò cầm quyền của mình. Ở những nước này, theo nhu cầu tự nhiên, việc nhất thể hóa giữa đảng và nhà nước đều đã được thực hiện ở những mức độ khác nhau. Ở Trung Quốc, người đứng đầu Đảng cũng là người đứng đầu Nhà nước; ở Lào, cũng vậy; ở Cuba, mức độ nhất thể hóa còn cao hơn nữa - người đứng đầu Đảng, Nhà nước và đứng đầu Chính phủ chỉ là một. Như vậy, Việt Nam là một trong ít nước trên thế giới, nơi người đứng đầu Đảng và người đứng đầu Nhà nước là hai nhà lãnh đạo khác nhau.

Trong thời gian vừa qua, những cố gắng để hợp nhất ở Việt Nam đã được triển khai, hiện nay các chức danh Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội đều là Ủy viên Bộ Chính trị; các Bộ trưởng đều là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương; ở cấp địa phương khi người đứng đầu Đảng có thể kiêm chức chủ tịch HĐND hoặc kiêm chức chủ tịch UBND ở các cấp chính quyền địa phương. Trong các doanh nghiệp nhà nước, các cơ quan chuyên môn, nghiệp vụ, việc nhất thể hóa được triển khai triệt để hơn. Ở những nơi này, về cơ bản, người đứng đầu Đảng thường đồng thời cũng là người đứng đầu cơ quan, doanh nghiệp. Nhưng về thực chất, chưa thể nói là Đảng đã hóa thân vào Nhà nước, bởi điều đó vẫn chưa đáp ứng đủ các điều kiện cần thiết của việc hóa thân mà biểu hiện rõ nhất là vẫn tồn tại hai hệ thống thiết chế Đảng và Nhà nước riêng.

Để hợp nhất hệ thống Đảng và Nhà nước, theo chúng tôi cần phải thực hiện được một số yêu cầu sau đây:

- Cần tiếp tục tăng cường nghiên cứu và tiến tới thực hiện việc hợp nhất các chức danh người đứng đầu và một số tổ chức của Đảng, Nhà nước. Cần nhận thức rõ rằng, việc hợp nhất này không đơn thuần chỉ như là sự "nhập lại" làm một các chức danh, các tổ chức đó. Đây thực sự là một quy trình không ít những khó khăn, phải được thực hiện một cách khoa học, đồng bộ, gắn với việc hoàn thiện mô hình tổ chức nhà nước, với việc đảm bảo dân chủ trong bầu cử, bố trí điều động cán bộ, đồng thời làm tinh gọn bộ máy cầm quyền trong hệ thống chính trị.

Trước hết, để hợp nhất thì việc lựa chọn mô hình bộ máy nhà nước là điều đầu tiên quan trọng nhất chúng ta phải làm. Hiện nay trên thế giới các nước lựa chọn mô hình thủ tướng chế (người đứng đầu Đảng sẽ phải làm thủ tướng như ở Anh, ở Nhật), hoặc mô hình tổng thống chế (người đứng đầu Đảng làm tổng thống như ở Mỹ, ở Indonesia), hoặc mô hình tổng thống lưỡng tính (chính phủ vừa có tổng thống và vừa có thủ tướng, như Nga, Pháp, người đứng đầu là lãnh đạo đảng thắng cử trong bầu cử tổng thống…).

Trong lịch sử, thực chất chúng ta đã từng có mô hình tổng thống lưỡng tính theo Hiến pháp năm 1946. Trong nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thời đó chúng ta đã từng có Chủ tịch nước và Thủ tướng Chính phủ đều nắm quyền hành pháp. Việc lựa chọn mô hình thiết kế bộ máy nhà nước phù hợp với đặc điểm một Đảng cộng sản cầm quyền, bộ máy nhà nước quyền lực tập trung mà không phân quyền, đối trọng như các nước tư sản phương Tây là vấn đề đang đặt ra trong quá trình nhất thể hóa hiện nay. Nếu chúng ta hiểu đúng thì thiết kế quyền lực đúng, và thiết kế quyền lực đúng mới có nền quản trị quốc gia hiện đại.

Trong điều kiện hiện nay, chúng ta có thể tiến hành nghiên cứu việc hợp nhất một số cơ quan Đảng và Nhà nước như: Ban Tổ chức Trung ương với Bộ Nội vụ; Ban Tuyên giáo Trung ương với Bộ Thông tin truyền thông, Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch; Ban Kinh tế Trung ương với Bộ Kế hoạch đầu tư và Bộ Tài chính… Cùng với việc nhất thể hóa như đã nêu trên, cần đổi mới mô hình Ủy ban kiểm tra của Đảng do cấp ủy bầu hiện nay thành Ủy ban kiểm tra giám sát và kỷ luật của Đảng do Đại hội bầu. Ủy ban này cần phải có vị trí độc lập nhất định. Sau khi đã nhất thể hóa với cơ quan Thanh tra nhà nước, Ủy ban này sẽ có vai trò quan trọng trong việc kiểm soát quyền lực của chủ thể cầm quyền nói chung, người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước nói riêng.

Việc hợp nhất tổ chức Đảng và Nhà nước cũng đặt ra vấn đề cần nghiên cứu lại mối quan hệ giữa các cơ quan trong bộ máy nhà nước; mô hình hoạt động và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước theo hướng đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng, tính hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước.

Ở các nước, cử tri bỏ phiếu cho đảng và đảng thành lập ra chính phủ, cương lĩnh của đảng qua bầu cử phải là chương trình hành động của chính phủ và chính phủ phải thực hiện các cam kết trước xã hội. Ở Việt Nam, đổi mới sự lãnh đạo của Đảng xét về mặt kỹ trị cần phải xem khi người dân đã bầu cho Đảng Cộng sản có đa số trong Quốc hội và đây chính là lựa chọn nhân sự. Việc Quốc hội lại lặp lại một lần nữa lựa chọn nhân sự cho thấy mối quan hệ giữa hành pháp và lập pháp có vấn đề. Đó là sự tương tác giữa hành pháp và lập pháp như thế nào cho đúng nếu không sẽ bị hiểu hành pháp là cơ quan chấp hành của Quốc hội, do đó, đường lối của Đảng thì cơ quan nào thực hiện.

Trong mô hình xô - viết, Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất và Quốc hội có quyền quyết định tối cao và Chính phủ thực hiện. Theo mô hình này sẽ rất khó khăn bởi vì quy trình thẩm định chính sách không xảy ra được. Chính phủ có thể hoạch định, nhưng Quốc hội phải thẩm định. Quyền lập pháp của Quốc hội được hiểu là quyền thẩm định và thông qua luật chứ không phải quyền làm luật mà Chính phủ phải thực hiện, như vậy, pháp luật chưa được thẩm định và nếu chưa được thẩm định thì quả thực rất khó thực hiện trong thực tế.

Để hợp nhất thẩm quyền, trách nhiệm của Đảng và Nhà nước thì những đề xuất sáng kiến chính sách, tranh luận, phê chuẩn, ban hành các chính sách về phát triển các lĩnh vực kinh tế - xã hội của đất nước cần được tiến hành ngay trong Quốc hội, Chính phủ tùy theo từng trường hợp cụ thể. Có nghĩa là các đảng viên ưu tú trong Quốc hội, Chính phủ chỉ cần một lần tham gia vào việc thảo luận, ban hành các chính sách quốc gia. Điều này cũng đồng nghĩa với việc các hội nghị Ban Chấp hành Trung ương, cấp ủy các cấp chỉ nên tập trung bàn đến các vấn đề về xây dựng Đảng, như: chỉ đạo làm tốt công tác tư tưởng, lý luận; vận động, thuyết phục quần chúng nhân dân thực hiện các chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước; quản lý và giáo dục, xây dựng đội ngũ đảng viên của Đảng vững mạnh, có năng lực, phẩm chất tốt, uy tín cao, có khả năng đảm đương các công việc của Đảng, đồng thời để sẵn sàng giới thiệu, ứng cử vào các chức danh chủ chốt của bộ máy công quyền. Nhất thể hóa như trên chính là Đảng đã thực hiện vai trò cầm quyền của mình một cách trực tiếp nhất, chứ không phải như trước là "lãnh đạo" kiểu gián tiếp từ bên ngoài bằng nghị quyết rồi thông qua Nhà nước thể chế hóa vào pháp luật và tổ chức thực hiện.

Cách thức cầm quyền theo hướng hợp nhất như vậy là thông dụng với các đảng cầm quyền trên thế giới. Nếu chúng ta thực hiện nhất thể hóa sẽ làm cho việc xây dựng và ban hành các quyết định, chính sách về phát triển các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội chỉ còn tập trung ở một đầu mối, không chồng chéo chức năng, tiết kiệm được nhiều thời gian hội họp, ban hành quyết định, chính sách nhanh và khoa học hơn bởi đã theo một quy trình thống nhất và minh bạch, đồng thời xác định rõ được chế độ trách nhiệm làm cho chất lượng của các quyết định, chính sách sẽ cao hơn, nâng cao được năng lực cầm quyền của Đảng.

Cần xúc tiến nghiên cứu, tiến tới hợp nhất thẩm quyền, trách nhiệm của Đảng và Nhà nước trong việc hoạch định và thực thi các chính sách về các lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Đây có thể được coi là một nội dung quan trọng trong đổi mới cách thức cầm quyền của Đảng hiện nay. Việc cầm quyền của Đảng bằng cách Đảng đề ra các nghị quyết, rồi giao cho Quốc hội thể chế hóa thành pháp luật như thời gian qua làm cho Đảng dường như đã đứng trên Nhà nước, dẫn đến nảy sinh nhiều hệ lụy, đồng thời tạo ra hình thức áp đặt, chuyên quyền trong thực thi quyền lực, làm thiếu sinh khí của môi trường phản biện trong xã hội.

 

2. Kiến nghị về xây dựng nền hành chính theo hướng tăng sự phân cấp, phân quyền cho địa phương

 

2.1. Kiến nghị về phân cấp, phân quyền cho địa phương

 

Để đất nước phát triển, để pháp luật đáng tin cậy và thực thi có hiệu quả thì phải có một nền hành chính chuyên nghiệp và kỹ năng. Nền hành chính này phải gồm các những chuyên gia, những người giỏi về chuyên môn, họ biết giải quyết các vấn đề, biết triển khai chính sách. Bên cạnh đó, cần phải làm rõ vấn đề trách nhiệm hành chính. Chế độ trách nhiệm ở đây thể hiện qua việc giao nhiệm vụ phải hoàn thành, không phải là chế độ trách nhiệm chính trị, có tín nhiệm cao thì được lên chức, nếu không hoàn thành nhiệm vụ thì phải chịu trách nhiệm trước thủ trưởng, không hoàn thành nhiệm vụ sẽ bị mất chức.

Nền hành chính chúng ta xây dựng  phải là nền hành chính công vụ chuyên nghiệp. Trong mối quan hệ với chính trị, chính trị quyết như thế nào thì hành chính thực hiện như vậy, nhưng hành chính cần phải có sự độc lập tương đối, chứ không nên chính trị hóa nền hành chính.

Cải cách tiếp theo là chúng ta phải xây dựng được hệ thống chính quyền địa phương tự quản. Hiện nay, việc thi hành pháp luật chồng chéo chức năng, cấp nào cũng bảo đảm thi hành hiến pháp và pháp luật, cấp trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã đều phải bảo đảm thi hành hiến pháp và pháp luật nên xuất hiện tình trạng chồng chéo và không rõ chức năng, thẩm quyền. Việc làm rõ, phân biệt về thẩm quyền của các cấp chính quyền là cần thiết.

Có 2 cách để chúng ta phân biệt, quyền lực phải phân chia giữa các cấp chính quyền. Theo đó, thẩm quyền gì phân chia cho Trung ương thì không phân chia cho địa phương, cái gì phân cho địa phương thì không chia cho Trung ương. Hoặc các cấp chính quyền bổ trợ cho nhau, cái gì cấp thấp nhất làm được thì cấp thấp nhất làm hết, chỉ có cái gì cấp thấp nhất không làm được thì mới chuyển lên cấp tiếp theo, tất cả những cái gì cấp tiếp theo làm được thì cấp tiếp theo làm hết, chỉ có cái gì cấp tiếp theo không làm được thì mới chuyển lên cấp tiếp theo làm nữa. Chúng ta phải lựa chọn phân quyền, phân quyền để tạo nên chính quyền địa phương tự quản thì kinh tế - xã hội ở địa phương mới dễ được mới phát triển được và chế độ trách nhiệm chính quyền trước địa phương, người dân mới rõ được.

Cải cách tiếp theo đó là có ý thức, có chính sách để xây dựng một xã hội năng động và phát triển. Bởi vì chính quyền không thể làm hết được mọi việc. Chính quyền vận hành trên chế độ trách nhiệm nên phải biết lựa chọn những việc cần làm, những việc không cần thiết thì giao cho xã hội. Khu vực kinh tế tư nhân vận hành trên cơ sở của lợi nhuận, không có lợi nhuận thực sự khó vận hành, những thiết chế vận hành trên cơ sở lòng tin, lương tâm và trách nhiệm cá nhân sẽ lấp lại những khoảng trống của tất cả những khoảng trống mà chính quyền cũng như khu vực kinh tế tư nhân không thể đáp ứng được. Việc cải cách dịch vụ công theo hướng công bằng, hiệu quả là ưu tiên quan trọng trong đổi mới tổ chức và vận hành của nền hành chính quốc gia.

 

2.2. Kiến nghị về xây dựng thể chế hành chính theo hướng công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình

Đổi mới thể chế hành chính đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của quốc gia. Hiện nay, thể chế hành chính Việt Nam đang tạo ra nhiều rào cản cho sự phát triển, điều dễ nhận thấy nhất là sự thiếu công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình. Để khắc phục tình trạng này, đề tài đưa ra một số kiến nghị sau:

- Giải quyết tình trạng thương mại hóa các thiết chế công đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa thể chế hành chính;

- Phân định rạch ròi giữa khu vực công và khu vực tư trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước; nghiên cứu cơ chế tách bạch chức năng hành chính và chính trị để thiết lập môi trường công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình;

- Hoàn thiện cơ chế kiểm soát, giám sát việc thực hiện quyền hành pháp của Quốc hội thông qua việc thành lập Thanh tra Quốc hội để thanh tra các hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước;

- Rà soát tổng thể vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và biên chế hiện có của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các cấp; phân định rõ thẩm quyền hành chính giữa Trung ương và địa phương;

- Cải cách và triển khai cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các đơn vị sự nghiệp dịch vụ công; chất lượng dịch vụ công từng bước được nâng cao; chuyển giao những công việc mà cơ quan hành chính nhà nước không nên làm hoặc làm hiệu quả thấp cho xã hội, các tổ chức xã hội, tổ chức phi chính phủ đảm nhận;

- Thiết lập cơ chế kiểm soát chặt chẽ việc ban hành mới các thủ tục hành chính theo quy định của pháp luật. Lồng ghép yêu cầu cải cách thủ tục hành chính ngay trong quá trình xây dựng thể chế

- Thực hiện công khai, minh bạch thủ tục hành chính bằng các hình thức thiết thực và thích hợp; duy trì và cập nhật cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính;

- Thực hiện định kỳ đối thoại giữa cơ quan hành chính với doanh nghiệp và nhân dân; mở rộng dân chủ, phát huy vai trò của các tổ chức và chuyên gia tư vấn độc lập trong việc xây dựng thể chế, chuẩn mực quốc gia về thủ tục hành chính;

- Chuyển từ cơ chế chịu trách nhiệm tập thể bằng cơ chế trách nhiệm cá nhân, đặc biệt đối với những người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước;

- Áp dụng hệ thống chức nghiệp thực tài bằng việc xây dựng khung pháp lý đề cao các tiêu chuẩn về chức danh, tiêu chuẩn nghiệp vụ của cán bộ, công chức, viên chức; xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan hành chính nhà nước; thực hiện chế độ thi nâng ngạch theo nguyên tắc cạnh tranh; thi tuyển cạnh tranh để bổ nhiệm vào các vị trí lãnh đạo, quản lý từ cấp vụ trưởng và tương đương (ở trung ương), giám đốc sở và tương đương (ở địa phương) trở xuống. Xây dựng bộ quy tắc về tuyển dụng và đề bạt phù hợp với quy định của Luật Cán bộ, công chức; đề cao trách nhiệm giám sát quy trình tuyển dụng trước cơ quan dân cử, cử tri và báo chí - truyền thông.

Chia quy trình tuyển chọn, bổ nhiệm cán bộ thành từng khâu; báo cáo kết quả tuyển dụng, bổ nhiệm công khai nhằm kiểm soát tiêu cực, đảm bảo công bằng, minh bạch; xây dựng bảng mô tả công việc chuyên môn và vị trí từng chức danh để ứng viên lựa chọn vị trí ứng tuyển.

- Xây dựng Bộ chỉ số đánh giá công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình trong tổ chức và hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam.

Nghiên cứu cơ chế tách bạch chức năng hành chính và chính trị để thiết lập môi trường công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình. Xây dựng Bộ chỉ số đánh giá công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình trong tổ chức và hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam.

- Tăng cường trách nhiệm cá nhân: Hiện nay, trách nhiệm cá nhân không rõ trong các quy định của Đảng và hệ thống pháp luật. Cần sửa đổi Điều lệ Đảng và Hiến pháp năm 2013 theo hướng tăng cường và làm rõ trách nhiệm cá nhân. Điều lệ Đảng nên làm rõ trách nhiệm của các chức danh đứng đầu; Hiến pháp năm 2013 cần sửa Chương 7 từ điều 94-101 theo nguyên tắc làm rõ trách nhiệm của Thủ tướng chính phủ; trách nhiệm của UBND địa phương Chương IX từ điều 110-116.

- Khu biệt, tách bạch chức năng chính trị và kỹ trị. Sự khu biệt nhằm đảm bảo sự cân bằng giữa các đòi hỏi về chính trị với đòi hỏi về chuyên môn kỹ thuật. Như trên đã phân tích nguyên tắc song trùng trực thuộc trong thiết kế HTCT, tức các cấp chính quyền đều do đảng cấp đó trực tiếp lãnh đạo, ngoài sự lãnh đạo từ cấp trên. Chính nguyên tắc này dẫn đến sự khác biệt về chức năng khái quát của 2 nhóm lãnh đạo: nhóm lãnh đạo chính trị bên Đảng và nhóm lãnh đạo kỹ trị, bên Nhà nước.

Ở các nước phát triển, hai nhóm chức năng này được chia theo chiều dọc - nhóm chính trị cơ bản là do bầu cử theo nhiệm kỳ, còn nhóm kỹ trị về cơ bản là do thi tuyển, được xếp, bổ nhiệm theo ngạch chuyên môn, không theo nhiệm kỳ. Trong khi ở Việt Nam, chúng cơ bản được chia theo chiều ngang, giữa cơ quan Đảng và Nhà nước cùng cấp. Do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân quan trọng là một khi có 2 trung tâm quyền lực, tất yếu sẽ có cạnh tranh về ảnh hưởng giữa chúng, dù không có tính chất đối kháng, xuất hiện khuynh hướng sự phân chia này lại không được tuân thủ, với nghĩa là nhóm chức năng chính trị (các cơ quan Đảng) lại cũng đòi hỏi đáp ứng các tiêu chí chuyên môn kỹ trị, và ngược lại, nhóm chức năng kỹ trị (Nhà nước) lại cũng đòi hỏi các tiêu chí về phẩm chất chính trị.

Chính vì vậy, trong thực tế, sự khác biệt chức năng như vậy không phải khi nào cũng thể hiện rõ ràng và có thể dẫn đến sự bao biện làm thay của chính trị, hoặc ngược lại, quyền lực kỹ trị lấn át chính trị.

Trong bộ máy nhà nước, do không có sự phân biệt thành 2 nhóm (lãnh đạo chính trị và quản lý kỹ trị) rõ ràng, cán bộ lãnh đạo như các Bộ trưởng, Thứ trưởng hay Vụ trưởng, luôn phải đảm bảo cả hai tố chất - chính trị và kỹ trị. Cần thấy rằng đây chính là yếu tố xuyên suốt, lâu dài có tính ảnh hưởng đối với toàn bộ hệ thống, và đặc biệt chi phối quá trình lựa chọn các thế hệ lãnh đạo, đặc biệt là cơ cấu của nhóm lãnh đạo, cho dù trong các thời kỳ khác nhau có các quy định, tiêu chí cụ thể khác nhau.

Sự không khu biệt chính trị và kỹ trị trong một thể chế quyền lực (nhà nước, Đảng) hoặc sự khu biệt theo chiều ngang) có thể đã có các tác dụng nhất định vừa do yêu cầu của bối cảnh lúc đó, vừa do chúng ta có một thế hệ các cán bộ lãnh đạo đủ tổ chất, nhưng cho đến nay, cách tổ chức như vậy là không hiệu quả và dẫn đến nhiều kết quả không mong muốn.  Sự khu biệt này, đương nhiên phải là một định hướng quan trọng trong đổi mới HTCT. Vấn đề về thẩm quyền kỹ trị chuyên môn so với thẩm quyền chính trị (tức ý kiến của đa số) được chú ý mạnh mẽ vì không phải khi nào số đông cũng đúng, hơn nữa, trong xã hội hiện đại, những người đại diện cho đa số thông thường không bao giờ có đủ kiến thức chuyên môn về các lĩnh vực mà mình có quyền quyết định.

Hiện nay, thiết kế HTCT, đã không tách biệt được giới kỹ trị và chính trị, và do vậy các tiêu chí về tài năng, hiệu quả và đạo đức sẽ dễ bị lẫn lộn và thậm chí bị thao túng bằng cách đưa các tiêu chí dù quan trọng cho vị trí này nhưng lại không thích hợp cho việc lựa chọn cán bộ ở vị trí khác, mà nổi bật là tiêu chí về bằng cấp và tuổi tác. Hiện tượng các lãnh đạo đoàn thể chuyển sang lãnh đạo nhà nước có các điểm yếu cũng chính là do vấn đề này. Xã hội càng phát triển, yêu cầu về chuyên môn hóa càng cao, đến mức ngay cả chính trị cũng đòi hỏi sự chuyên nghiệp, tức cũng trở thành một nghề. Trong thời đại dân chủ thì tính chính trị chính là đại diện lợi ích chủ quan của nhân dân (tức do bầu cử) còn tính kỹ trị chính là đại diện cho sự hợp lý khách quan mà mọi tổ chức cần có (tức do thi cử). Ở Việt Nam, Trung Quốc và một số nước XHCN trước đây như Liên Xô, việc khu biệt này đã từng được áp dụng, mà nổi bật là Bộ trưởng không nhất thiết phải là đảng viên (tức lãnh đạo kỹ trị) và thứ trưởng do Đảng bổ nhiệm, chịu trách nhiệm về đường lối chính trị.

Ở Việt Nam, trước đây, các bí thư tỉnh ủy cũng không phải là Ủy viên Trung ương chính thức, do nhiều nguyên nhân, nhưng trong đó có một nguyên nhân chính là sự khu biệt giữa việc thực hiện kỹ trị với sự hoạch định mang tính định hướng chính trị. Sự khu biệt như vậy đã bị phá vỡ trong suốt nhiều năm qua mà một trong các hệ quả dế thấy nhất là sự bổ nhiệm các vị trí kỹ trị lại dựa quá nhiều vào tiêu chuẩn chính trị và ngược lại.

Việc khu biệt hai chức năng kỹ trị và chính trị như vậy cũng có thể tiến hành ở 2 cấp độ:

1) Cấp độ về tổ chức: Cần phân biệt rõ các tổ chức dân cử và các tổ chức hành chính, các tổ chức xã hội. Trong điều kiện hiện nay, điều này chưa làm được ở Việt Nam.

2) Cấp độ cá nhân: Cần phân biệt rõ các tiêu chí tuyển chọn và sử dụng, đề bạt cán bộ. Đồng thời quy định các chức năng chính trị và kỹ trị cho các vị trí tương ứng. Đây là điều có thể làm được trong thực tế.

Đề tài kiến nghị phương hướng chính như sau:

(1) Các bộ trưởng đều là các bổ nhiệm chính trị, đều phải do Đảng phê chuẩn và dân tín nhiệm qua bầu cử, lấy tiêu chí phẩm chất chính trị làm chính.

(2) Trong số các thứ trưởng, có thể giành 2/3 cho các bổ nhiệm trên cơ sở chủ yếu là tiêu chuẩn kỹ trị, tức không nhất thiết phải là đảng viên, hoặc nếu là đảng viên thì tiêu chuẩn chuyên môn vẫn phải chiếm ưu thế.

 

Trong phần 3 : Xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực, đề tài đã đề xuất một số kiến nghị về: Hoàn thiện hệ thống giám sát quyền lực chính trị; xây dựng cơ chế bảo hiến ở Việt Nam; cải cách hệ thống kiểm tra đảng và thanh tra; đổi mới hệ thống bầu cử và một số kiến nghị khác như: Đẩy mạnh xây dựng Đảng về văn hóa chính trị; Đổi mới quy trình xây dựng cương lĩnh chính trị của Đảng.v.v..  

 

PV (nguồn: Theo Báo cáo kết quả nghiên cứu của Đề tài KX.04.02/16-20 )

Tin Liên quan

Góp ý về nội dung bài viết