Thứ Ba, ngày 11 tháng 05 năm 2021

Kiến nghị của Đề tài "Những cơ sở lý luận, thực tiễn phục vụ cho việc xây dựng các văn kiện Đại hội XIII của Đảng"

Ngày phát hành: 12/01/2021 Lượt xem 729

Đề tài khoa học "Những cơ sở lý luận, thực tiễn phục vụ cho việc xây dựng các văn kiện Đại hội XIII của Đảng" ; mã số KX.04.29/16-20. do PGS.TS Trần Quốc Toản làm Chủ nhiệm đã bảo vệ thành công xuất sắc. Trong quá trình nghiên cứu, Đề tài đã có nhiều đóng góp vào việc chuẩn bị một số đề án trình Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, các nghị quyết của Trung ương; góp phần vào xây dựng dự thảo Văn kiện Đại hội XIII của Đảng. Dưới đây, là một số kiến nghị của đề tài: 

 

 

 

I. ĐỀ XUẤT NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG LỚN, GIẢI PHÁP TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC ĐẾN NĂM 2030, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2045

1.1. Định hướng mục tiêu phát triển

Mục tiêu tổng quát :

Đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới - phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, hòa bình, phồn vinh, hạnh phúc”, nâng cao nhanh tiềm lực mọi mặt của đất nước và đời sống của nhân dân; nâng cao năng lực lãnh đạo - cầm quyền tiền phong của Đảng, năng lực quản lý - quản trị kiến tạo phát triển của Nhà nước, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; kiến tạo niềm tin, phát huy sức sáng tạo, ý chí và khát vọng phát triển, sức mạnh của toàn dân tộc, tạo động lực cho đất nước phát triển nhanh - bền vững, bảo vệ vững chắc Tổ quốc; đưa nước ta đến năm 2045 trở thành nước phát triển hiện đại, bước vào nhóm các nước có thu nhập cao.

Mục tiêu định hướng đến từng giai đoạn:

- Mục tiêu định hướng đến năm 2030: Xây dựng nước ta trở thành nước đang phát triển trình độ cao, có nền công nghiệp theo hướng hiện đại, thu nhập trung bình cao.

- Mục tiêu định hướng đến năm 2045: Trở thành nước phát triển, có nền công nghiệp hiện đại, thu nhập cao.

 

1.2. Đề xuất hệ quan điểm phát triển

Xuất phát từ yêu cầu của giai đoạn mới, Đề tài đề xuất hệ quan điểm phát triển như sau :

1) Đẩy mạnh đổi mới tư duy phát triển, đưa công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ đất nước lên một tầm cao mới. Phát triển nhanh - bền vững tổng hợp, đồng bộ cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và môi trường vừa là mục tiêu vừa là yêu cầu khách quan của sự phát triển đất nước trong giai đoạn mới, để thực hiện ngày càng có hiệu quả cao hơn mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, không bị tụt hậu, không rơi vào “bẫy thu nhập trung bình”; xây dựng đất nước hòa bình - phồn vinh - hạnh phúc.

2) Xây dựng và hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển nhanh - bền vững đất nước, đẩy mạnh chuyển đổi mô hình tăng trưởng sang phát triển theo chiều sâu, dựa vào khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo là nhiệm vụ trung tâm trong sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước trong giai đoạn mới.

3) Xử lý có hiệu quả quan hệ giữa các mục tiêu phát triển ngắn hạn trong định hướng thực hiện các mục tiêu trung và dài hạn; giữa phát triển “điểm” và “diện” trên bình diện cả nước cũng như từng địa phương, giữa từng địa phương với liên kết vùng và ngành trong cả nước: phải tạo được những mũi nhọn phát triển đột phá, chủ lực nhằm tăng nhanh nguồn lực nội sinh cho sự phát triển, chấp nhận sự chênh lệch phát triển trong những giới hạn nhất định, đồng thời quan tâm đúng mức đến sự phát triển “diện” phù hợp với điều kiện và trình độ cụ thể, nhằm đảm bảo sự hài hòa cần thiết cho sự phát triển nhanh - bền vững đất nước.

4) Phát huy cao ưu thế, sức mạnh, hiệu quả và vai trò khách quan của mỗi khu vực, thành phần, lực lượng kinh tế - xã hội trong sự liên kết hữu cơ với nhau, phát triển mạnh lực lượng kinh tế nội địa (dân tộc), tạo sự liên kết hiệu quả với đầu tư của nước ngoài, nhằm tạo nên sức mạnh của cả dân tộc thúc đẩy sự phát triển nhanh - bền vững đất nước.

5) Phát triển nhân tố con người (con người) với tư cách là chủ thể của quá trình phát triển nhanh - bền vững đất nước; xây dựng, củng cố niềm tin, hun đúc ý chí - khát vọng - trách nhiệm - sức sáng tạo - ý thức dân tộc của mỗi cá nhân, đơn vị, cộng đồng kết nối thành khát vọng và sức mạnh chung của cả dân tộc - đóng vai trò quyết định đối với sự phát triển nhanh - bền vững đất nước trong giai đoạn mới.

6) Đặt lợi ích quốc gia - dân tộc là tối thượng, đồng thời tôn trọng các lợi ích chính đáng của các quốc gia - dân tộc khác trong tiến trình hội nhập quốc tế; đẩy mạnh quá trình chủ động hợp tác - hội nhập quốc tế và tham gia vào các chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu; trở thành một nhân tố tích cực, có trách nhiệm trong tham gia kiến tạo và thực hiện có hiệu quả các thể chế hội nhập quốc tế vì lợi ích chung của hòa bình, hợp tác và phát triển của khu vực và thế giới.

7) Đổi mới và nâng cao năng lực lãnh đạo - cầm quyền tiên phong - dẫn đường của Đảng và năng lực năng lực kiến tạo phát triển của Nhà nước pháp quyền XHCN là nhân tố then chốt đảm bảo sự phát triển nhanh - bền vững, bảo đảm quốc phòng an ninh, bảo vệ vững chắc chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ đất nước trong giai đoạn mới.

 

 

1.3. Đề xuất xác định các đột phá chiến lược

Từ thực tiễn phát triển của đất nước, từ xu thế hội nhập quốc tế, nhất là trước yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng của đất nước sang phát triển theo chiều sâu, trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang tăng tốc…Đề tài đề xuất bốn đột phá chiến lược cho giai đoạn mới, như sau:

i). Đột phá về đổi mới tư duy phát triển, xây dựng tư duy phát triển mang tính đột phá, nhằm đáp ứng với đòi hỏi phát triển có tính bước ngoặt bứt phá của đất nước trong giai đoạn mới.

ii). Đột phá về xây dựng và hoàn thiện Thể chế phát triển theo chiều sâu, đồng bộ về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường, đảm bảo cho đất nước phát triển nhanh - bền vững trong giai đoạn mới.

iii). Đột phá về phát triển và ứng dụng khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, tạo động lực then chốt cho sự phát triển đất nước nhanh - bền vững.

iv). Đột phá về phát triển con người, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao - với tư cách là chủ thể và mục tiêu của quá trình đổi mới và phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Cần phải xác định phát triển con người - nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao với tư cách là chủ thể của quá trình phát triển đất nước là đột phá của các đột phá. Các đột phá chiến lược trên gắn kết hữu cơ với nhau thành ba trụ cột “Con người - thể chế phát triển - công nghệ và đổi mới sáng tạo” trong một thiết chế thống nhất tạo nên động lực mạnh mẽ cho sự phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Đột phá chiến lược “Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, với một số công trình hiện đại, tập trung vào hệ thống giao thông và hạ tầng đô thị” được Đại hội XI xác định vẫn là một đột phá rất quan trọng, song cần phải bổ sung và đẩy mạnh phát triển đồng bộ hạ tầng xã hội, nhất là hạ tầng công nghệ thông tin, hạ tầng số. Xét về phạm vi chi phối tổng thể thì đột phá này vẫn đứng sau và phụ thuộc vào bốn đột phá trên.

 

1.4. Đề xuất những định hướng và các giải pháp phát triển tổng thể

 1.4.1. Những định hướng tổng quát

i) - Đẩy mạnh đổi mới toàn diện tư duy phát triển, nhằm đáp ứng với đòi hỏi phát triển có tính bước ngoặt bứt phá của đất nước trong giai đoạn mới. Giải quyết hiệu quả mối quan hệ “Đổi mới - ổn định - phát triển” theo quan điểm động, trong đó “phát triển” là mục tiêu, là yếu tố chi phối toàn cục, “đổi mới” là động lực, và “ổn định” là điều kiện.

ii) - Quán triệt sâu sắc quan điểm phát triển nhanh - bền vững, đồng bộ về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, môi trường; xây dựng mô hình phát triển bền vững phù hợp, hiệu quả đối với Việt Nam, tiếp cận với xu thế chung của thế giới; đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số trong tất cả các lĩnh vực, phát triển kinh tế số.

iii) - Xây dựng và hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển nhanh - bền vững trên cơ sở phát huy cao những giá trị cốt lõi, nền tảng của dân tộc theo hướng hiện đại, tích hợp được các giá trị quý báu của nhân loại, hình thành phương thức phát triển phù hợp, hiệu quả của Việt Nam. Trong đó thể chế chính trị đóng vai trò "hoa tiêu, định hướng chính trị - xã hội, tạo cơ sở pháp lý cho sự phát triển nhanh - bền vững", thể chế kinh tế đóng vai trò trung tâm tạo động lực cho sự phát triển, thể chế phát triển văn hoá - xã hội đóng vai trò điều tiết hệ giá trị xã hội của quá trình phát triển. Các thể chế thành phần đó gắn bó hữu cơ với nhau tạo nên thể chế tổng hợp phát triển nhanh - hiệu quả - bền vững đất nước trong giai đoạn mới.

iv) - Xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, với bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng với yêu cầu của giai đoạn mới; vai trò năng lực và phương thức lãnh đạo - cầm quyền của Đảng được đổi mới và nâng cao; vai trò quản lý - kiến tạo phát triển của Nhà nước được hoàn thiện và nâng cao hiệu lực - hiện quả; vai trò chủ thể của nhân dân được khẳng định và phát huy.

v) - Hoàn thiện cơ chế, chính sách và đẩy mạnh thực hiện đồng bộ và có hiệu quả các mối quan hệ lớn trong quá trình phát triển đất nước, để thực hiện mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh".

vi) - Gắn bó hữu cơ, hài hòa phát triển kinh tế với đẩy mạnh xây dựng và hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách phát triển văn hóa - xã hội, quản lý phát triển xã hội; đẩy mạnh phát triển dân chủ gắn với nâng cao kỷ luật kỷ cương và trách nhiệm xã hội; bảo đảm quyền con người, quyền công dân; nâng cao đời sống mọi mặt của nhân dân; xây dựng xã hội nhân ái, đoàn kết, chia sẻ, “không ai bị bỏ lại phía sau”.

vii) - Tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn và an ninh xã hội. Hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách và nâng cao năng lực quốc gia để thực hiện có hiệu quả cao đường lối chủ động - tích cực hợp tác và hội nhập quốc tế.

1.4.2. Những định hướng giải pháp phát triển đối với các lĩnh vực cụ thể

1.4.2.1. Về phát triển kinh tế

Đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá theo hướng hiện đại, hiện đại hoá nền kinh tế. Đẩy mạnh tái cơ cấu nền kinh tế theo hướng chuyển mạnh mô hình tăng trưởng sang phát triển theo chiều sâu, nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh, tăng nhanh quy mô và nội lực của nền kinh tế quốc gia.

(1). Đẩy mạnh đổi mới, hoàn thiện đồng bộ và nâng cao chất lượng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa theo hướng hiện đại, hiệu quả, phù hợp với điều kiện và trình độ phát triển của Việt Nam và hội nhập quốc tế.

Xác định rõ hơn các đặc trưng và tiêu chí của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Hoàn thiện thể chế để thực hiện có hiệu quả mối quan hệ giữa nhà nhà nước, thị trường và xã hội theo nguyên tắc “nhà nước mạnh - thị trường hiệu quả - doanh nghiệp, người dân và xã hội năng động, sáng tạo”

Hoàn thiện đồng bộ hệ thống phát luật, cơ chế, chính sách; khắc phục những “điểm nghẽn”, “nút thắt”, mâu thuẫn, bất cập, không phù hợp thực tiễn trong thể chế phát triển kinh tế. Tiếp tục hoàn thiện môi trường kinh doanh theo hướng công khai, minh bạch; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính…, gắn với đẩy mạnh quá trình khởi nghiệp sáng tạo, tạo môi trường cạnh tranh công bằng, bình đẳng; nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Đẩy mạnh hoàn thiện thể chế đa sở hữu, nhất là thể chế sở hữu đất đai, thể chế quyền tài sản (chế định rõ quyền sử dụng đất đai là quyền tài sản được luật pháp bảo hộ), thể chế quản lý tài sản công; chế định đúng, công khai, minh bạch quyền, quyền hạn, lợi ích, nghĩa vụ, trách nhiệm, trách nhiệm giải trình của từng chủ thể, nhất là nhà nước; khắc phục tình trạng tham nhũng, tiêu cực, sử dụng kém hiệu quả, để thúc đẩy phát triển nền kinh tế lành mạnh, hiệu quả.

(2). Đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế trên cơ sở đổi mới sáng tạo, ứng dụng khoa học - công nghệ tiên tiến, nhất là công nghệ cao, công nghệ sạch, công nghệ thân thiện với môi trường, tận dụng có hiệu quả cơ hội do cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư tạo ra.

Xây dựng hệ tiêu chí nước công nghiệp theo hướng hiện đại, không chỉ bao hàm sự phát triển kinh tế, phát triển công nghiệp, phát triển và hiện đại hóa lực lượng sản xuất, phát triển cơ sở hạ tầng…, mà còn thể hiện quá trình hiện đại hóa phát triển xã hội, bảo vệ môi trường, phát triển bền vững. Trên cơ sở đó xây dựng Chiến lược và hệ thống cơ chế, chính sách đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá theo hướng hiện đại.

 Xây dựng và thực thi có hiệu quả thể chế mang tính vượt trội - hội nhập quốc tế để kịp thời đón nhận phát triển các phương thức, các loại hình kinh tế mới, sự chuyển dịch các chuỗi cung ứng; thúc đẩy đổi mới - sáng tạo, phát triển và ứng dụng khoa học - công nghệ, nhất là công nghệ cao, công nghệ mới, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.

 (3). Đẩy mạnh quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng sang phát triển theo chiều sâu, gắn với đẩy mạnh tái cơ cấu nền kinh tế, nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh, tăng quy mô và nội lực của nền kinh tế quốc gia.

Xây dựng và thực thi có hiệu quả cơ chế, chính sách chuyển sang mô hình phát triển theo chiều sâu dựa trên đổi mới sáng tạo và ứng dụng khoa học - công nghệ tiên tiến, nhất là công nghệ cao, thúc đẩy mạnh khởi nghiệp sáng tạo. Hoàn thiện thể chế để đẩy mạnh và nâng cao chất lượng, hiệu quả đổi mới cơ cấu nền kinh tế, tái cơ cấu và nâng cao chất lượng doanh nghiệp nhà nước, tái cơ cấu và nâng cao chất lượng, hiệu quả đầu tư (nhất là thể chế quản lý đầu tư công, sử dụng tài sản công).

Hoàn thiện thể chế để giữ vững ổn định và nâng cao chất lượng kinh tế vĩ mô. Hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách và mô hình phát triển vùng gắn với quy hoạch phát triển ngành trong cả nước, tạo lập được các mũi nhọn chủ lực, đột phá để tạo động lực phát triển nhanh - bền vững đất nước.

Hoàn thiện thể chế, khắc phục những "điểm nghẽn" để đẩy mạnh tái cơ cấu - phát triển nông nghiệp theo hướng sinh thái hiện đại, nhất là ứng dụng công nghệ cao; phát triển nền nông nghiệp hàng hoá lớn gắn với đẩy mạnh phát triển công nghiệp chế biến và bảo quản, nâng cao chất lượng sản phẩm để tham gia và bước lên nấc thang cao hơn của chuỗi giá trị cung ứng, nâng cao giá trị gia tăng.

Hoàn thiện thể chế để thúc đẩy hình thành các hình thức liên kết bền vững, hiệu quả giữa các hộ nông dân trong các hợp tác xã kiểu mới với các doanh nghiệp và các chủ thể liên quan. Hoàn thiện thể chế, tiêu chí, cơ chế, chính sách để đẩy mạnh công cuộc xây dựng nông thôn mới; phát triển đa dạng các ngành nghề ở nông thôn; xây dựng nông thôn theo hướng giàu đẹp - nghĩa tình - văn minh - hiện đại - sinh thái, phù hợp với điều kiện và trình độ phát triển của từng vùng, tạo động lực nội sinh để nông thôn phát triển toàn diện, hiệu quả, bền vững, đồng bộ về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và môi trường.

Hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách phát triển lực lượng sản xuất theo hướng hiện đại, gắn với phát triển kinh tế tri thức, kinh tế số, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 phù hợp và hiệu quả trong từng lĩnh vực; đồng thời gắn liền với đó là nghiên cứu xây dựng và đổi mới hệ thống quan hệ sản xuất phù hợp, hiệu quả, thích ứng với yêu cầu của bước phát triển cao hơn và hội nhập quốc tế.

Hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách để thúc đẩy quá trình hợp tác, liên kết sản xuất kinh doanh giữa các chủ thể, theo hướng có sự chia sẻ về trách nhiệm, quyền lợi, rủi ro... để tạo lập các chuỗi sản xuất kinh doanh, chuỗi giá trị bền vững.

(4). Hoàn thiện cơ chế, chính sách để thúc đẩy xây dựng nền kinh tế dân tộc mạnh trên cơ sở phát huy có hiệu quả cao vai trò khách quan, ưu thế, sức mạnh và hiệu quả của tất cả các khu vực, chủ thể và lực lượng kinh tế; đề cao, coi trọng và hoàn thiện thể chế để đẩy mạnh phát triển kinh tế tư nhân cả về quy mô và chất lượng, phát triển theo chiều sâu, trở thành một động lực trọng yếu phát triển nền kinh tế đất nước; nâng cao chất lượng và hiệu quả kinh tế nhà nước, doanh nghiệp nhà nước. Hoàn thiện thể chế để kết nối các khu vực kinh tế, các chủ thể kinh tế trở thành một thực thể hữu cơ, gắn kết với nhau; thúc đẩy phát triển mạnh nội lực nền kinh tế dân tộc, trong đó coi trọng hợp tác - đối tác công tư. Nâng cao tính độc lập - tự chủ của nền kinh tế, giảm sự phụ thuộc quá lớn vào đầu tư FDI và thị trường nước ngoài.

Hoàn thiện cơ chế, chính sách để khuyến khích, hỗ trợ, thúc đẩy phát triển đội ngũ doanh nhân biết gắn sự phát triển và lợi ích của mình với sự phát triển và lợi ích của dân tộc, là lực lượng chủ lực góp phần quan trọng vào "định vị" nền kinh tế Việt Nam trên thế giới.

(5). Điều chỉnh định hướng chiến lược, cơ chế, chính sách, mục tiêu và tiêu chí thu hút FDI, đón nhận quá trình chuyển dịch các chuỗi cung ứng trong giai đoạn mới, phù hợp và hiệu quả trong từng lĩnh vực, theo hướng ứng dụng công nghệ cao, công nghệ sạch, liên kết có hiệu quả với các doanh nghiệp trong nước, đa dạng hóa nguồn cung, cầu; giảm dần tỷ trọng gia công lắp ráp với trình độ công nghệ thấp và trung bình. Hoàn thiện cơ chế, chính sách để khắc phục tình trạng chuyển giá, "lỗ giả lãi thật".

(6). Hoàn thiện thể chế hội nhập kinh tế quốc tế theo những quy tắc và chuẩn mực cao, đáp ứng các yêu cầu của các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, nhằm thúc đẩy phát triển và phát huy tối đa nội lực, tận dụng các cơ hội và kết hợp có hiệu quả với các xu thế phát triển của thế giới, tham gia ngày càng sâu rộng và hiệu quả hơn vào các chuỗi giá trị, chuỗi sản xuất, chuỗi cung ứng toàn cầu.

(7). Xây dựng và hoàn thiện mô hình và thể chế phát triển thích ứng có hiệu quả với trạng thái bình thường mới “hậu Covid”. Cùng với xu thế cấu trúc lại nền kinh tế của thế giới, để phát triển bền vững, Việt Nam phải đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng đa dạng hóa các thị trường quốc tế, không để phụ thuộc quá lớn vào một số đối tác; đẩy mạnh phát triển tiềm lực kinh tế dân tộc, doanh nghiệp Việt, đẩy mạnh tham gia vào các phân khúc có giá trị gia tăng cao trong các chuỗi cung ứng toàn cầu; đẩy mạnh phát triển thị trường nội địa, coi đây là một nền tảng - động lực quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững; kết nối có hiệu quả các doanh nghiệp Việt với các doanh nghiệp FDI. Đồng thời, phải khẩn trương xây dựng và hoàn thiện mô hình và thể chế phát triển thích ứng có hiệu quả với trạng thái bình thường mới “hậu Covid”.

 

 

1.4.2.2. Về phát triển văn hoá, xã hội, con người: Coi trọng phát triển con người, văn hoá, xã hội, với trọng tâm là hoàn thiện thể chế và tăng nguồn lực đầu tư cho phát triển các lĩnh vực này, trở thành nhân tố nội sinh cơ bản cho sự phát triển nhanh, bền vững đất nước.

(1). Về phát triển văn hoá: Tiếp tục quán triệt sâu sắc phát triển văn hoá là một trụ cột nền tảng mang tính bản chất, sức mạnh nội sinh, động lực quan trọng, là hệ điều tiết phát triển xã hội; đồng thời là một mục tiêu chủ yếu của sự phát triển.

Xây dựng và thực hiện hệ giá trị Việt Nam - tổng hợp của hệ giá trị con người - hệ giá trị văn hoá - hệ giá trị xã hội, đáp ứng với yêu cầu của công cuộc hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế trong giai đoạn mới.

Xây dựng hệ giá trị của Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo - cầm quyền và của NNPQ Việt Nam thực sự tiêu biểu cho dân tộc, làm “hoa tiêu” định hướng và phát triển hệ giá trị Việt Nam trong giai đoạn mới.

Xây dựng và hoàn thiện đồng bộ thể chế, thiết chế để tiếp tục đẩy mạnh phát triển văn hoá, phát triển và hiện thực hoá hệ giá trị Việt Nam trong tất cả các chủ thể, các lĩnh vực và toàn dân tộc. Tập trung phát triển đồng bộ các "trụ cột" văn hoá: Xây dựng đời sống, lối sống văn hoá dân tộc, văn minh, hiện đại, hội nhập; thúc đẩy phát triển sáng tạo văn hoá; hoàn thiện thể chế, thiết chế phát triển văn hoá; xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh; đẩy mạnh phát triển công nghiệp văn hóa, dịch vụ văn hoá và hội nhập quốc tế.

(2). Về phát triển con người: Khẳng định con người là chủ thể của quá trình đổi mới, phát triển đất nước, dân tộc. Phát triển con người vừa là mục tiêu vừa là động lực chủ đạo của quá trình phát triển đất nước; đặt phát triển con người vào vị trí trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội.

Tập trung cao phát triển những giá trị cốt lõi về con người tạo động lực nội sinh cho sự phát triển nhanh - bền vững trong giai đoạn mới, như: Tinh thần dân tộc, năng lực đổi mới, sáng tạo; trách nhiệm xã hội, trách nhiệm công dân, đề cao dân chủ gắn với ý thức thượng tôn pháp luật; năng lực liên kết, hợp tác và hội nhập...

 Khẳng định vai trò và tầm quan trọng của tế bào gia đình, và mối quan hệ hữu cơ giữa gia đình - nhà trường - xã hội trong giáo dục và phát triển con người. Chú trọng phát hiện, bồi dưỡng, đào tạo và phát triển tài năng, nhân tài cho đất nước trong mọi lĩnh vực.

(3). Về phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội: Hoàn thiện thể chế và thực hiện đồng bộ các cơ chế, chính sách phát triển xã hội, quản lý phát triển xã hội. Tập trung vào những nội dung bức thiết sau:

Thực hiện nhất quán quan điểm phát triển các giá trị xã hội tốt đẹp, văn minh là mục tiêu bao trùm và cao nhất của sự phát triển vì con người. Kiên định thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội; kết hợp hữu cơ giữa các chính sách kinh tế với chính sách xã hội trong sự phát triển.

Trên cơ sở làm rõ hơn về cơ sở lý luận và thực tiễn, xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách xã hội tổng hợp theo các xu thế phát triển hiện đại (tiếp cận theo quyền con người, theo vòng đời, theo sàn an sinh tối thiểu...), vừa đảm bảo công bằng và bình đẳng xã hội, vừa hỗ trợ có hiệu quả đối với các đối tượng yếu thế; đồng thời góp phần tạo động lực mạnh mẽ cho sự phát triển bền vững.

Xây dựng đồng bộ cơ chế, chính sách để tạo nền tảng (kinh tế, chính trị, xã hội) phát triển vững chắc đại đoàn kết dân tộc. Hoàn thiện chính sách phát triển giai cấp và các tầng lớp xã hội phù hợp với xu thế khách quan phát triển của đất nước và hội nhập quốc tế, nhằm tạo động lực to lớn để thúc đẩy đất nước phát triển nhanh, bền vững.

Hoàn thiện cơ chế, chính sách để thực hiện nhất quán quan điểm tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân theo đúng luật pháp, phát huy những giá trị tốt đẹp và các nguồn lực của các tôn giáo trong xây dựng và phát triển đất nước; đồng thời ngăn chặn các hoạt động lợi dụng tôn giáo, mê tín dị đoan, “thương mại hoá đức tin” ....

Xây dựng và hoàn thiện đồng bộ thể chế quản lý phát triển xã hội thích ứng có hiệu quả với những biến đổi và tác động đa dạng, nhanh, phức tạp, đa diện, đa chiều cả về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, con người, truyền thông... đang diễn ra trên thế giới và tác động trực tiếp đến sự phát triển của Việt Nam; ứng phó có hiệu quả với những tác động ngày càng phức tạp của an ninh phi truyền thống; Xây dựng môi trường xã hội lành mạnh, dân chủ, công khai, minh bạch, nhân ái; đảm bảo an ninh con người và an ninh xã hội.

Nghiên cứu xây dựng các mô hình và triển khai thực hiện các mô hình đô thị thông minh, văn minh. Tiếp tục hoàn thiện mô hình, cơ chế, chính sách để đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới văn minh, bền vững. Hoàn thiện cơ chế, chính sách để phát huy tính tự chủ, tự quản của cộng đồng trong phát triển xã hội bền vững.

Nhà nước đóng vai trò chủ đạo kết hợp hữu cơ với đẩy mạnh xã hội hoá trong thực hiện các chính sách xã hội, quản lý phát triển xã hội. Đảm bảo sự phân phối, điều tiết tương đối hài hoà thành quả, lợi ích phát triển giữa các tầng lớp xã hội, giữa các khu vực; chú trọng tới các đối tượng yếu thế, “không để ai tụt lại phía sau”.

Thực hiện có hiệu quả dân chủ xã hội, nhất là dân chủ ở cơ sở, phát huy cao các giá trị cộng đồng trong sự phát triển xã hội bền vững; giải quyết hài hòa các quan hệ lợi ích trong xã hội. Thực hiện có hiệu quả mối quan hệ giữa thực hành dân chủ đi đôi với tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội, trách nhiệm xã hội ở mọi lĩnh vực, mọi cấp độ.

Xây dựng và thực thi có hiệu quả cơ chế giám sát và phản biện xã hội đối với hoạt động của các tổ chức đảng và nhà nước; nâng cao lòng tin của nhân dân, sự đồng thuận xã hội đối với sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước.

1.4.2.3. Về phát triển giáo dục và đào tạo với trọng tâm là phát triển con người, nguồn nhân lực chất lương cao

Tiếp tục đẩy mạnh đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục - đào tạo, xác định đây là nhân tố cốt lõi phát triển toàn diện con người Việt Nam đáp ứng với yêu cầu là chủ thể sáng tạo của quá trình phát triển nhanh - bền vững đất nước.

Đẩy mạnh đổi mới tư duy giáo dục, nhận thức rõ bản chất và cơ chế phát triển giáo dục trong điều kiện KTTT và hội nhập quốc tế. Trên cơ sở đó xây dựng cơ chế, chính sách phát triển giáo dục phù hợp và hiệu quả. Tiếp tục quán triệt đầy đủ, sâu sắc và xây dựng đồng bộ cơ chế, chính sách để thực hiện có hiệu quả quan điểm "giáo dục là quốc sách hàng đầu", "cùng với khoa học - công nghệ là động lực then chốt" để phát triển đất nước. Đẩy mạnh triển khai đồng bộ, có hiệu quả sự nghiệp đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục - đào tạo, theo định hướng “chuẩn hoá, hiện đại hoá, dân chủ hoá, xã hội hoá và hội nhập quốc tế”.  

Xây dựng và hoàn thiện đồng bộ thể chế, hệ thống pháp luật và cơ chế, chính sách phát triển giáo dục Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế để tạo động lực phát triển giáo dục - đào tạo hiệu quả, chất lượng.

Đẩy mạnh đổi mới đồng bộ mục tiêu, nội dung, chương trình và phương thức, phương pháp giáo dục - đào tạo theo hướng hiện đại, thích ứng với những bước phát triển mới và đòi hỏi của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Tập trung giáo dục, phát triển các giá trị cốt lõi; đặc biệt chú trọng giáo dục "làm người" ngay từ bậc tiểu học, làm cơ sở hình thành nhân cách bền vững cho các bước phát triển con người tiếp theo.

Đổi mới và hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân; đa dạng hoá các loại hình đào tạo; hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển các cơ sở đào tạo ngoài công lập phù hợp với điều kiện của Việt Nam và xu thế chung của thế giới. Xây dựng đồng bộ các cơ chế, chính sách để thúc đẩy phát triển xã hội học tập.

Xác định nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo là mục tiêu trung tâm, xuyên suốt của sự nghiệp đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục. Thực hiện đồng bộ các giải pháp để nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo ở tất cả các cấp và bậc học, đặc biệt là nâng cao chất lượng đào tạo đại học và giáo dục nghề nghiệp, nguồn nhân lực trình độ cao. Ưu tiên đầu tư phát triển đào tạo một số ngành, nghề quan trọng, hiện đại, mũi nhọn đáo ứng với yêu cầu của cách mạng công nghiệp 4.0.

Hoàn thiện đồng bộ cơ chế, chính sách để đẩy mạnh và nâng cao chất lượng, hiệu quả nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ trong các cơ sở giáo dục - đào tạo. Hình thành các trung tâm nghiên cứu xuất sắc, các nhóm nghiên cứu đổi mới sáng tạo mạnh, các doanh nghiệp khoa học - công nghệ chủ lực, thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo, gắn kết chặt chẽ nghiên cứu với đào tạo, phục vụ phát triển kinh tế, xã hội.

Đề cao vị trí, vai trò và trách nhiệm xã hội của đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục. Đổi mới căn bản hệ thống đào tạo sư phạm; thực hiện đồng bộ các cơ chế, chính sách và giải pháp để nâng cao trình độ và chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục.

Nhà nước tiếp tục tăng đầu tư cho giáo dục - đào tạo gắn với đổi mới cơ chế, chính sách đầu tư để nâng cao hiệu quả đầu tư; đồng thời hoàn thiện đồng bộ cơ chế, chính sách để đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục - đào tạo. Hoàn thiện cơ chế, chính sách để thực hiện có hiệu quả các chính sách xã hội trong giáo dục - đào tạo.

Đẩy mạnh đổi mới cơ chế quản lý phát triển giáo dục - đào tạo. Chế định và thực hiện sự phân cấp phù hợp, hiệu quả hơn trong quản lý nhà nước về giáo dục - đào tạo. Hoàn thiện và thực hiện có hiệu quả cơ chế tự chủ gắn với trách nhiệm giải trình của các cơ sở giáo dục - đào tạo; hoàn thiện đồng bộ các phương thức thi, đánh giá, kiểm định chất lượng giáo dục - đào tạo theo hướng hiện đại, hội nhập quốc tế.

Xây dựng và thực hiện có hiệu quả chiến lược hợp tác và hội nhập quốc tế về giáo dục - đào tạo. Phấn đấu đưa nước ta trở thành một quốc gia mạnh về giáo dục - đào tạo ở khu vực, tiếp cận với trình độ tiên tiến của quốc tế, tham gia vào thị trường đào tạo nhân lực quốc tế.

1.4.2.4. Về phát triển khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo:

Hoàn thiện thể chế gắn với tăng cường đầu tư để thúc đẩy mạnh mẽ đổi mới sáng tạo, phát triển và ứng dụng khoa học - công nghệ, tạo động lực nền tảng cho phát triển đất nước nhanh - bền vững trong giai đoạn mới

Phải thể chế hóa bằng các cơ chế, chính sách cụ thể để hiện thực hóa quan điểm “khoa học - công nghệ là quốc sách hàng đầu”, “là động lực then chốt” đối với sự phát triển của đất nước, đặc biệt là trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang tăng tốc.

Xây dựng và hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển và ứng dụng khoa học - công nghệ; xác định rõ vai trò chủ đạo của Nhà nước trong định hướng chiến lược và điều tiết đầu tư phát triển, vai trò trung tâm của các doanh nghiệp trong việc ứng dụng và phát huy hiệu quả KH-CN, vai trò then chốt của các cơ sở khoa học - công nghệ trong nghiên cứu phát triển và đổi mới công nghệ.

Tập trung hoàn thiện cơ chế, chính sách để phát triển khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo; phát triển hệ thống sáng tạo quốc gia; tạo cơ chế liên kết hữu cơ giữa các cơ sở nghiên cứu với các doanh nghiệp trên cơ sở chia sẻ về trách nhiệm và lợi ích tương hỗ, để khoa học - công nghệ thực sự trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, là động lực chính của mô hình tăng trưởng - phát triển theo chiều sâu.

Xây dựng và thực thi có hiệu quả Chiến lược phát triển và ứng dụng khoa học - công nghệ; coi đây là một bộ phận hợp thành hữu cơ của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội với trọng tâm là công nghiệp hoá đất nước theo hướng hiện đại. Xây dựng chiến lược và hoàn thiện cơ chế, chính sách để đẩy mạnh và nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác và hội nhập quốc tế về khoa học - công nghệ.

Hoàn thiện cơ chế, chính sách đẩy mạnh phát triển tiềm lực khoa học - công nghệ quốc gia gắn liền với phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo; tập trung triển khai các hướng nghiên cứu khoa học, phát triển và ứng dụng công nghệ mới đóng vai trò then chốt đối với sự phát triển của đất nước trong giai đoạn mới.

Tiếp tục tăng đầu tư (có trọng tâm, trọng điểm) của Nhà nước gắn liền với đổi mới cơ chế để nâng cao hiệu quả đầu tư; đồng thời hoàn thiện cơ chế, chính sách để huy động mạnh mẽ các nguồn lực từ xã hội, nhất là từ các doanh nghiệp để đầu tư phát triển và ứng dụng khoa học - công nghệ, nhất là công nghệ cao.

Hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích, thúc sáng tạo trong hoạt động khoa học - công nghệ, xây dựng môi trường hoạt động khoa học - công nghệ dân chủ, công khai, minh bạch; gắn liền cống hiến với hưởng thụ, lợi ích với trách nhiệm công dân, trách nhiệm xã hội. Tiếp tục đổi mới căn bản cơ chế quản lý hệ thống các chương trình, nhiệm vụ khoa học và công nghệ, nhất là cơ chế tài chính; lấy kết quả, hiệu quả cuối cùng làm tiêu chí đánh giá chất lượng hoạt động khoa học - công nghệ.

 

 

1.4.2.5. Tăng cường bảo vệ tài nguyên, môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu: Nâng cao nhận thức của cả HTCT, các doanh nghiệp và toàn xã hội về bảo vệ tài nguyên, môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu; coi đây là vấn đề “tồn vong lâu dài” của đất nước, của dân tộc. Phải quán triệt và thực thi nghiêm túc quan điểm “không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế”; xác định đây là một nội dung trọng yếu của phát triển nhanh - bền vững đất nước, nội dung quan trọng của an ninh quốc gia.

Xây dựng chiến lược, quy hoạch, dự án phát triển kinh tế - xã hội phải bao hàm nội dung bảo vệ tài nguyên, môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu. Đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng tăng trưởng xanh và phát triển bền vững. Tập trung xử lý triệt để, dứt điểm các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Phải rất coi trọng các giải pháp bảo đảm an ninh môi trường gắn với phát triển kinh tế, xã hội an toàn, bền vững.

Nâng cao năng lực dự báo và giám sát về khai thác và sử dụng tài nguyên, thay đổi về môi trường, biến đổi khí hậu, cảnh báo thiên tai và thảm hoạ môi trường; xây dựng hệ thống các giải pháp về phát triển kinh tế, xã hội thích ứng và ứng phó có hiệu quả với những tác động tiêu cực. Hoàn thiện và thực thi nghiêm túc hệ thống pháp luật và cơ chế, chính sách về bảo vệ tài nguyên, môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu. Tích cực và chủ động hợp tác quốc tế trong việc bảo vệ tài nguyên, môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu.

1.4.2.6. Về quốc phòng và an ninh: Quán triệt sâu sắc mục tiêu và nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh mới. Phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc và sức mạnh thời đại, sức mạnh của hội nhập và hợp tác quốc tế để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; giữ vững môi trường hoà bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đảm bảo cho đất nước phát triển nhanh, bền vững.

Tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược bảo đảm an ninh quốc gia trong tình hình mới; thực hiện các giải pháp tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh và bảo vệ Tổ quốc. Quán triệt và thực thi nhất quán phương châm, phương thức bảo vệ Tổ quốc của Đảng và Nhà nước. Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội với quốc phòng, an ninh và đối ngoại.

Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng; sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với các lực lượng vũ trang nhân dân và sự nghiệp tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc.

1.4.2.7. Về đối ngoại: Nghiên cứu, nhận thức rõ, sâu sắc các xu thế phát triển và biến động của thế giới và khu vực, để xây dựng chiến lược và các đối sách chủ động thích ứng hiệu quả với quá trình này.

Ngoại giao phải đóng vai trò tiên phong trong việc thực hiện đường lối, chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế; kiến tạo môi trường hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển cho đất nước. Kiên trì và nhất quán thực hiện có hiệu quả nguyên tắc “độc lập, tự chủ, đa phương hoá, đa dạng hoá trong quan hệ đối ngoại”; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, “hợp tác đi đôi với đấu tranh”. Tập trung phát triển mạnh quan hệ với các nước lớn, các đối tác chiến lược, các nước láng giềng, các nước trong khối ASEAN theo nguyên tắc tôn trọng lẫn nhau, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi; xây dựng niềm tin chiến lược, tạo lập nền tảng để xây dựng các quan hệ đối tác chiến lược, đối tác toàn diện tin cậy, bền vững, cùng có lợi. Thúc đẩy tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, góp phần tích cực vào những nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế vì hoà bình, hợp tác và phát triển.

Hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách hội nhập quốc tế để đáp ứng có hiệu quả cao với yêu cầu đưa quan hệ quốc tế, hội nhập quốc tế đi vào chiều sâu, toàn diện hơn, nhất là khi tham gia những hiệp định thế hệ mới như CPTPP, EVFTA với những chế định ở trình độ cao.

Chủ động, tích cực góp phần tham gia xây dựng các thể chế đa phương toàn cầu và khu vực; phát huy vai trò tích cực của Việt Nam tại các thể chế đa phương. Đồng thời đẩy mạnh, làm sâu sắc hơn, phát triển hiệu quả hơn các quan hệ song phương với các đối tác, đặc biệt là các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện, các nước láng giềng, các nước trong cộng đồng ASEAN. Cam kết cùng các nước trong và ngoài khu vực duy trì, thúc đẩy hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn và tự do hàng hải ở Biển Đông trên cơ sở luật pháp quốc tế; hết sức nỗ lực để xây dựng một khu vực hòa bình, hữu nghị và hợp tác, từng bước trở thành một cộng đồng ngày một gắn kết về chính trị, liên kết về kinh tế, và sẻ chia trách nhiệm xã hội.

Hoàn thiện cơ chế để bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, sự quản lý tập trung của Nhà nước đối với các hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế ở các cấp các ngành. Tăng cường công tác nghiên cứu, dự báo chiến lược về đối ngoại; không để bị động, bất ngờ. Mở rộng, làm sâu sắc hơn và nâng cao hiệu quả quan hệ đối ngoại của Đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân.

1.4.2.8. Về xây dựng hệ thống chính trị, Đảng và Nhà nước: Xây dựng, đổi mới, hoàn thiện đồng bộ hệ thống chính trị, trong sạch, vững mạnh, năng động, sáng tạo với cơ cấu tổ chức tinh gọn, phù hợp, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, tạo nền tảng chính trị, pháp lý và đạo đức vững chắc để đất nước phát triển nhanh - bền vững trong giai đoạn mới.

(1). Về đổi mới và hoàn thiện thể chế chính trị

Trên cơ sở nghiên cứu thấu đáo cơ sở lý luận, yêu cầu của giai đoạn mới và tổng kết thực tiễn, xác định rõ hơn và hoàn thiện vai trò, chức năng, nhiệm vụ của hệ thống chính trị và của từng hệ thống tổ chức đảng, nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, xây dựng mô hình tổ chức hệ thống chính trị hiện đại, phù hợp, tinh gọn, với cơ chế hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Đổi mới phương thức lãnh đạo - cầm quyền của Đảng gắn với xây dựng Nhà nước phát quyền.

Hoàn thiện thể chế Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội theo các nguyên tắc pháp quyền. Đổi mới, nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị, nhất là đối với Nhà nước, lãnh đạo xây dựng thể chế phát triển hiện đại, hiệu quả. Xác định rõ nội dung và thể chế hoá rõ hơn cơ chế vận hành của hệ thống chính trị, phân định rõ hơn cơ chế hoạt động của Đảng, của Nhà nước và của các tổ chức chính trị - xã hội.

Nâng cao năng lực định hướng và hoạch định chiến lược, chính sách phát triển, năng lực dự báo và điều chỉnh chiến lược phát triển toàn diện các lĩnh vực, đảm bảo tính định hướng phát triển đúng đắn và năng lực kiến tạo phát triển của thể chế chính trị.

Xây dựng và thực thi có hiệu quả hệ giá trị văn hoá của Đảng và Nhà nước, của cả hệ thống chính trị trở thành những giá trị tốt đẹp tiêu biểu cho sự phát triển của đất nước trong giai đoạn mới góp phần tạo động lực nội sinh cốt lõi của sự phát triển bền vững đắt nước.

(2). Về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa: Cần tiếp tục nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn để nâng cao nhận thức về bản chất và thực chất dân chủ vừa là mục tiêu vừa là thể chế và động lực phát triển bền vững; nhận thức sâu sắc và thực hành rộng rãi dân chủ xã hội chủ nghĩa “là chìa khoá vạn năng để giải quyết mọi vấn đề”.

Phải hoàn thiện đồng bộ thể chế để xây dựng và thực thi nền dân chủ, trong đó chế định rõ quyền, quyền hạn, nghĩa vụ, trách nhiệm, lợi ích, trách nhiệm xã hội và trách nhiệm giải trình công khai, minh bạch của mỗi cá nhân, tổ chức, đoàn thể và đơn vị. Đặc biệt là chế định rõ và thực thi có hiệu quả cơ chế dân chủ trong Đảng, trong Nhà nước, và trong hệ thống chính trị.

Đảng lãnh đạo Nhà nước xây dựng luật pháp và cơ chế thực thi các chủ trương chính sách theo nguyên tắc pháp quyền và dân chủ, phản ánh đầy đủ ý chí, nguyện vọng, lợi ích của nhân dân. Xây dựng và thực thi có hiệu quả cơ chế kiểm soát quyền lực của Đảng và Nhà nước từ phía nhân dân, xã hội. Xây dựng thể chế để thực thi có hiệu quả dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp; thực hiện có hiệu quả dân chủ cơ sở.

Phát huy dân chủ phải đi liền với tăng cường pháp chế, kỷ cương, đề cao trách nhiệm công dân. Hoàn thiện cơ chế để thực hiện có hiệu quả mối quan hệ giữa đảm bảo kỷ cương, tuân thủ pháp luật gắn với quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ và đạo đức xã hội, là một nhiệm vụ quan trọng trong phát triển xã hội.

(3). Về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa: Xác định xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng thể chế chính trị. Hoàn thiện đồng bộ thể chế nhà nước phản ánh đúng bản chất “nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”, “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”. Nâng cao đồng bộ chất lượng và hiệu lực, hiệu quả hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp. Đề cao vai trò của tư pháp trong xây dựng nhà nước pháp quyền, với vai trò trung tâm của tòa án. Tiếp tục đẩy mạnh cải cách tư pháp, xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, công bằng, nghiêm minh.

Đề cao nguyên tắc pháp quyền trong xây dựng Nhà nước, trong xây dựng và thực thi hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách, trong mọi hoạt động của Nhà nước, trong tất cả các hoạt động của xã hội theo nguyên tắc “người dân được làm những gì mà pháp luật không cấm; còn các cơ quan nhà nước và cán bộ công chức chỉ được làm những gì pháp luật cho phép”; đồng thời xây dựng khung khổ pháp lý, cơ chế để thúc đẩy tinh thần trách nhiệm dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới sáng tạo của đội ngũ cán bộ, công chức vì lợi ích của nhân dân, của đất nước. Đẩy mạnh xây dựng và hoàn thiện các chức năng kiến tạo phát triển của Nhà nước, đặc biệt là của Chính phủ, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh - bền vững đất nước trong giai đoạn mới.

Đẩy mạnh đổi mới và hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và cơ chế vận hành của hệ thống nhà nước, nhất là hệ thống hành pháp và tư pháp đáp ứng với yêu cầu của Nhà nước pháp quyền trong giai đoạn mới. Nâng cao năng lực xây dựng pháp luật, cơ chế, chính sách, năng lực chỉ đạo tổ chức thực hiện, năng lực "phản ứng" chính sách trong bối cảnh phát triển nhanh của đất nước, biến đổi phức tạp và nhanh chóng của thế giới.

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và tổng kết thục tiễn, đổi mới mạnh mẽ và hoàn thiện thể chế quyền lực nhà nước từ Trung ương xuống cơ sở với cơ chế phân cấp, phân công, phân quyền phù hợp và hiệu quả, theo các nguyên tắc: Phân định rõ trách nhiệm, quyền hạn giữa Trung ương và địa phương, vừa đảm bảo sự lãnh đạo tập trung thống nhất của Trung ương vừa nâng cao tính tự chủ - tự quản - trách nhiệm giải trình, tính năng động, sáng tạo của địa phương, cơ sở. Việc phân cấp, phân quyền phải được thể chế hoá bằng các quy định của pháp luật. Chế định rõ quyền hạn, nghĩa vụ, trách nhiệm, trách nhiệm giải trình của từng cấp và sự phối hợp giữa các cấp với nhau.

Hoàn thiện hệ thống chính quyền địa phương theo hướng xây dựng mô hình chính quyền phù hợp với khu vực nông thôn, thành thị, và các khu hành chính - kinh tế đặc biệt. Tiếp tục đẩy mạnh quá trình hợp nhất các đơn vị hành chính huyện (quận), xã (phường), các đơn vị, tổ chức trong hệ thống nhà nước phù hợp điều kiện và yêu cầu phát triển của giai đoạn mới.

Tiếp tục đẩy mạnh đổi mới và thực hiện hiệu quả cải cách hành chính, cải cách tư pháp; xây dựng bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; xây dựng hệ thống đội ngũ cán bộ, công chức "thực đức - thực tài", nâng cao năng lực, trình độ, đạo đức công vụ và trách nhiệm giải trình. Đẩy mạnh xây dựng chính quyền điện tử, chính quyền số.

Xây dựng và hoàn thiện đồng bộ thể chế, thiết chế, cơ chế bảo vệ Hiến pháp và luật pháp; kiểm soát chặt chẽ quyền lực nhà nước (cả từ bên trong hệ thống Đảng, nhà nước và từ xã hội); phòng, chống có hiệu quả tình trạng tha hoá quyền lực, tham nhũng, lãng phí, quan liêu, cửa quyền, xa dân. Hoàn thiện thể chế, chế tài để các cơ quan công quyền nhà nước, các cán bộ, công chức thực hiện nghiêm túc, công khai trách nhiệm giải trình trước xã hội và nhân dân.

(4). Về xây dựng Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân: Tiếp tục khẳng định và nâng cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân trong xây dựng và phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trong xây dựng Đảng và Nhà nước, trong thực hiện giám sát và phản biện xã hội.

Từ nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn, đẩy mạnh đổi mới chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính tri - xã hội theo hướng phân định rõ các chức năng, nhiệm vụ tham gia vào hệ thống chính trị (chức năng chính trị) và chức năng kinh tế - xã hội mang tính đặc thù của từng tổ chức đối với các thành viên (mang tính tự nguyện, tự chủ), để trên cơ sỏ đó xây dựng tổ chức và cơ chế hoạt động phù hợp, hiệu quả; đặc biệt, cần đổi mới tổ chức và cơ chế hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội ở cấp cơ sở, đề cao tính tự nguyện, tự chủ, tự quản, tính cộng đồng trong hoạt động của các tổ chức này.

Thể chế hoá và chế định rõ cơ chế lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước đối với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân theo hướng đảm bảo định hướng chính trị, tuân thủ thượng tôn pháp luật, đề cao tính tự chủ, tự quản và trách nhiệm xã hội của các tổ chức, thực hiện có hiệu quả chức năng giám sát, phản biện xã hội.  

(5). Về xây dựng tổ chức bộ máy hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả: Trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lý luận và tổng kết thực tiễn, thống nhất nhận thức và với quyết tâm chính trị cao, tiếp tục đổi mới và hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ của HTCT và của từng tổ chức thành viên; xác định tiêu chí, điều kiện sắp xếp, sáp nhập, tinh giản tổ chức - bộ máy ở từng cấp; chế định rõ hơn mối quan hệ về thẩm quyền và trách nhiệm giữa Trung ương và địa phương, giữa các cấp địa phương; trên cơ sở đó xây dựng mô hình tổng thể về tổ chức - bộ máy HTCT theo hướng tinh gọn, gắn liền với đó là đổi mới và hoàn thiện cơ chế vận hành của hệ thống chính trị từ Trung ương xuống cơ sở, nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động đáp ứng với yêu cầu phát triển của giai đoạn mới.

(6). Về tiếp tục đẩy mạnh xây dựng và chỉnh đốn Đảng: Thực hiện đồng bộ các giải pháp xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ ; nâng cao năng lực lãnh đạo “tiền phong - dẫn đường” của Đảng ngang tầm với đòi hỏi của nhiệm vụ phát triển nhanh - bền vững đất nước trong giai đoạn mới.

Nghiên cứu hoàn thiện, cụ thể hoá, thể chế hoá, cơ chế hóa vai trò, chức năng lãnh đạo - cầm quyền của Đảng, để Đảng thực hiện tốt sứ mệnh đã được nêu trong Cương lĩnh của Đảng và hiến định trong Hiếp pháp năm 2013[1] .

Nhận thức đúng và phân định rõ hơn chức năng lãnh đạo và chức năng cầm quyền của Đảng với chức năng quản lý của Nhà nước pháp quyền; xác định rõ mối quan hệ giữa vai trò lãnh đạo chính trị của Đảng và quản lý của Nhà nước trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền “của dân, do dân, vì dân”. Trên cơ sở đó chế định phương thức lãnh đạo và phương thức cần quyền đúng đắn của Đảng gắn với xây dựng Nhà nước pháp quyền.

Tập trung đổi mới, nâng cao năng lực lãnh đạo - cầm quyền, năng lực định hướng chiến lược phát triển; đổi mới nội dung, phương thức, cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị, nhất là phương thức lãnh đạo - cầm quyền chủ yếu bằng Nhà nước, thông qua Nhà nước. Chế định rõ chức năng, nhiệm vụ, nội dung cơ chế lãnh đạo và trách nhiệm giải trình của từng cấp, từng loại loại cấp ủy. Bảo đảm Đảng thật sự là lực lượng tiêu biểu về “trí tuệ, đạo đức, văn minh” (Hồ Chí Minh). Đây là nhân tố quyết định để Đảng lãnh đạo xây dựng và thực hiện thành công thể chế phát triển nhanh - bền vững đất nước trong giai đoan mới.

Tiếp tục hoàn thiện thể chế dân chủ trong đảng, thực hiện nghiêm túc chế độ tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo - cá nhân phụ trách, nhất là các cán bộ cao cấp, những người đứng đầu cấp uỷ và chính quyền. Dân chủ trong Đảng phải trở thành biểu tượng định hướng phát triển dân chủ trong hệ thống chính trị và trong xã hội. Hoàn thiện thể chế để đẩy mạnh xây dựng Đảng về đạo đức, gắn với thực hiện trách nhiệm nêu gương.

Hoàn thiện cơ chế Đảng lãnh đạo công tác tổ chức - cán bộ đối với hệ thống chính trị; lãnh đạo xây dựng và chế định rõ tiêu chuẩn, tiêu chí, cơ chế, quy trình công tác cán bộ một cách công khai minh bạch, phân cấp và quy định chế độ trách nhiệm rõ ràng, để đảm bảo xây dựng được đội ngũ cán bộ các cấp “thực đức - thực tài”. Hoàn thiện cơ chế để khuyến khích, thúc đẩy và bảo vệ cán bộ, đảng viên có tinh thần đổi mới sáng tạo, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, vì sự phát triển của đất nước và lợi ích của nhân dân. Xây dựng và thực thi cơ chế dân chủ trong công tác cán bộ, cơ chế để các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân tham gia giới thiệu và bày tỏ tín nhiệm đối với cán bộ, đảng viên.

Đặc biệt quan tâm lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, thực sự là “công bộc của dân”, gắn bó với nhân dân, đặt lợi ích của nhân dân, lợi ích quốc gia - dân tộc cao hơn lợi ích cá nhân, có đủ phẩm chất và năng lực thực thi có hiệu quả nhiệm vụ được giao; chế định rõ cơ chế để các tổ chức đảng, các cán bộ, đảng viên gắn bó máu thịt với nhân dân, thấu hiểu sâu sắc tâm tư, nguyện vọng và lợi ích chính đáng của người dân.

Nghiên cứu hoàn thiện chức năng, nhiệm vu, quyền hạn, trách nhiệm, tổ chức bộ máy và cơ chế hoạt động của hệ thống kiểm tra đảng theo hướng tăng quyền hạn, trách nhiệm và gắn hữu cơ với Thanh tra Nhà nước để thực thi đồng bộ kỷ luật Đảng và nguyên tắc pháp quyền Nhà nước.

Nghiên cứu hoàn thiện Điều lệ của Đảng, coi đây là Bộ luật cao nhất quy định đầy đủ, đồng bộ về vai trò, chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy và cơ chế hoạt động của các tổ chức đảng từ Trung ương xuống cơ sở. Chế định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm, trách nhiệm giải trình của từng tổ chức đảng, từng cấp uỷ, của những người đứng đầu cấp uỷ, nhất là về thực hiện chức năng lãnh đạo - cầm quyền, vai trò nêu gương. Chế định rõ cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, cơ chế dân chủ trong Đảng. Chế định rõ cơ chế kiểm soát quyền lực trong Đảng gắn với kiểm soát quyền lực Nhà nước.

(7). Về hoàn thiện thể chế - cơ chế "Đảng lãnh đạo - nhà nước quản lý - nhân dân làm chủ": Trên cơ sở nguyên tắc pháp quyền, bảo đảm và nâng cao vai trò lãnh đạo - cầm quyền của Đảng, hiệu lực - hiệu quả quản lý của Nhà nước và vai trò chủ thể của Nhân dân, cần hoàn thiện và chế định rõ thể chế - cơ chế “Đảng lãnh đạo - nhà nước quản lý - nhân dân làm chủ” trên bình diện chung và đối với từng cấp, từng lĩnh vực, từng đơn vị, nhằm đảm bảo hiệu lực, hiệu quả vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước và vai trò làm chủ của nhân dân. Cơ chế “Đảng lãnh đạo - nhà nước quản lý - nhân dân làm chủ” phải thể hiện sâu sắc nguyên lý cơ bản mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu “Tất cả quyền lực thuộc về nhân dân”, “địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ”, “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân”, “quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”, “Công việc đổi mới xây dựng là trách nhiệm của nhân dân”, vì vậy “Việc gì có lợi cho dân thì hết sức làm, việc gì có hại cho dân thì hết sức tránh”.

 

 

1.5. Xác định các động lực tăng trưởng - phát triển chủ yếu

Bước sang giai đoạn phát triển mới, đất nước ta đứng trước đòi hỏi khách quan phải chuyển đổi mô hình tăng trưởng sang phát triển theo chiều sâu, phát triển nhanh - bền vững dựa trên nền tảng khoa học - công nghệ hiện đại, nhất là công nghệ cao, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang tăng tốc; dựa trên nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao. Để đạt được mục tiêu này, phải xác định và hiện thực hóa được các động lực tăng trưởng - phát triển ở tất cả các cấp độ. Trong khuôn khổ Đề tài này chỉ đề cập đến các động lực tăng trưởng - phát triển ở tầm quốc gia, tác động tới sự phát triển tổng hợp chung của cả nước. Với cách tiếp cận đó, xin đề xuất các động lực tăng trưởng - phát triển chủ yếu sau:

(1). Động lực niềm tin Quốc gia - Dân tộc. Đây là động lực mang yếu tố tư tưởng - tinh thần - đạo đức của một quốc gia - dân tộc. Động lực này giúp cho quốc gia - dân tộc gắn kết lại với nhau, vượt qua những khó khăn, thách thức cam go nhất, khốc liệt nhất để vượt lên, tồn tại và phát triển mạnh mẽ. Động lực này sẽ được xác lập trên nền tảng đường lối, chủ trương, định hướng phát triển đúng đắn của Đảng vì mục tiêu xây dựng đất nước “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”; trên nền tảng một Nhà nước pháp quyền XHCN thực sự của dân, do dân, vì dân. Động lực này cũng là kết tinh - kết tụ lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, trách nhiệm công dân, trách nhiệm xã hội, khát vọng chấn hưng đất nước của mỗi con người, của cả dân tộc.

(2). Động lực thể chế

Thể chế và chất lượng của thể chế đóng vai trò quyết định đối với sự phát triển nhanh - bền vững đất nước. Phải xây dựng và hoàn thiện thể chế phát triển tổng thể, đồng bộ cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, môi trường và hội nhập quốc tế. Trong đó, phải đảm bảo “sự phù hợp và đồng bộ động” giữa các thể chế thành phần, theo hướng thể chế chính trị đóng vai trò quyết định trong việc định hướng phát triển, tạo lập nền tảng chính trị - pháp lý cho sự phát triển ; thể chế kinh tế đóng vai trò trung tâm tạo động lực lợi ích cho sự phát triển; thể chế phát triển văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường là hệ điều tiết phát triển xã hội lành mạnh, bền vững. Trong đó, phải tập trung xây dựng thể chế lãnh đạo - cầm quyền của Đảng; thể chế quản lý - quản trị của nhà nước theo các nguyên tắc pháp quyền và kiến tạo phát triển, xây dựng được mối quan hệ hữu cơ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội theo hướng “Nhà nước mạnh - Thị trường hiệu quả - Xã hội, doanh nghiệp và người dân năng động, sáng tạo”.

(3). Động lực nhân tố con người - nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao

Trong tất cả các mô hình tăng trưởng - phát triển, con người luôn là chủ thể trung tâm. Khi chuyển sang phát triển theo chiều sâu, dựa chủ yếu vào khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo, thì vai trò chủ thể của con người bước lên một nấc thang mới về chất : phương diện tri thức sáng tạo trở thành nhân tố chủ đạo trong hoạt động của con người ở mọi cấp độ. Nhân tố con người phải được nhìn nhận theo giác độ là chủ thể của quá trình xây dựng - phát triển - bảo vệ Tổ quốc. Nhân tố con người là tâm điểm quy tụ tất cả các yếu tố vật chất và phi vật chất, giá trị văn hóa, khoa học - công nghệ, để tạo thành động lực phát triển. Do đó, nhân tố con người phải chứa đựng những giá trị cốt lõi nhất của một chủ thể phát triển đáp ứng với yêu cầu của giai đoạn mới.

(4). Động lực khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo 

  Chuyển sang mô hình tăng trưởng - phát triển theo chiều sâu, nâng cao năng suất lao động, nâng cao chất lượng và hiệu quả tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, con đường duy nhất là phải dựa vào phát triển - ứng dụng khoa học - công nghệ và đổi mới - sáng tạo, tạo động lực nền tảng, then chốt cho phát triển đất nước nhanh - bền vững trong giai đoạn mới.

(5). Động lực từ hệ thống chủ thể sản xuất - kinh doanh hiện đại, hiệu quả

Trong phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hơn, nhất là phát triển nền kinh tế hiện đại, hệ thống các chủ thể sản xuất kinh doanh, trước hết là các doanh nghiệp, đóng vai trò trung tâm của sự phát triển. Việc phát triển hệ thống chủ thể sản xuất - kinh doanh hiện đại, với một cấu trúc hợp lý, hài hòa, cùng với việc nâng cao hiệu quả hoạt động trong sự liên kết với nhau, phát huy vị trí, vai trò khách quan của mỗi loại chủ thể trong từng lĩnh vực và trong từng giai đoạn, sẽ tạo được động lực cộng hưởng to lớn để đảm bảo sự phát triển nhanh - bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.

(6). Động lực về lợi ích

Lợi ích (chính đáng) luôn là vấn đề cốt lõi của phát triển, là động lực chủ đạo bên trong của tăng trưởng và phát triển. Sẽ không thể có tăng trưởng và phát triển cao, bền vững nếu không tạo ra được lợi ích chính đáng và đảm bảo sự hài hòa về lợi ích giữa các chủ thể trong quá trình phát triển. Lợi ích được nhìn nhận không chỉ là lợi ích kinh tế, lợi ích vật chất, mà còn là các giá trị tinh thần, giá trị đạo đức, giá trị con người và giá trị xã hội; cũng không chỉ là các lợi ích của từng cá nhân, mà còn là lợi ích của từng đơn vị, tổ chức, của cộng đồng, của toàn xã hội và của cả quốc gia - dân tộc. Cần hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách để đảm bảo công bằng, bình đẳng về lợi ích liên kết giữa các chủ thể, gắn hữu cơ giữa quyền hạn, nghĩa vụ, trách nhiệm, lợi ích và rủi ro (nếu có) giữa các chủ thể.

(7). Động lực từ hệ thống cơ sở hạ tầng đồng bộ về kinh tế - xã hội - môi trường

Có thể coi đây là một động lực tăng trưởng, theo nghĩa phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng sẽ tạo cơ sở nền tảng để phát triển các lĩnh vực khác. Thực tiễn cho thấy và trước yêu cầu phát triển nhanh - bền vững đất nước trong giai đoạn mới, cần phải có cách tiếp cận bao trùm hơn về phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng, nghĩa là phải phát triển đồng bộ, phù hợp, hiệu quả hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội - môi trường trong từng giai đoạn, từng khu vực, gắn kết hiệu quả mục tiêu trước mắt với mục tiêu trung và dài hạn.

(8). Động lực Đại đoàn kết dân tộc và phát huy sức mạnh cộng đồng

Bài học lịch sử về “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết - Thành công, thành công, đại thành công” luôn luôn mới và có giá trị to lớn trong phát huy sức mạnh của cả dân tộc để phát triển nhanh - bền vững và bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, biển đảo đất nước trong giai đoạn mới. Vấn đề cốt lõi là phải xây dựng được đồng bộ nền tảng thể chế chính trị, tư tưởng, pháp lý, kinh tế, văn hóa, đạo đức, xã hội làm cơ sở cho phát huy cao nhất sức mạnh của đại đoàn kết dân tộc; phát huy có hiệu quả nền dân chủ theo phương châm “Dân cần - Dân biết - Dân bàn - Dân quyết - Dân làm - Dân kiểm tra - Dân thụ hưởng”, nâng vai trò của người dân và cộng đồng từ đối tượng thụ hưởng lên vai trò chủ thể - đối tác phát triển; gắn kết sức mạnh của Đại đoàn kết dân tộc với xu thế phát triển của thế giới, sức mạnh của hội nhập quốc tế, dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước. Để đưa Việt Nam phát triển, bước tới đài vinh quang sánh vai với các cường quốc năm châu, như Bác Hồ đã nói.

Việc hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách để phát huy cao sức mạnh tổng hợp của các động lực trên là nhân tố quyết định đưa đất nước ta phát triển nhanh - bền vững trong giai đoạn mới.

 

II. ĐỀ XUẤT MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ NHẬN THỨC LÝ LUẬN CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU, BỔ SUNG, PHÁT TRIỂN

Đề tài đề xuất một số vấn đề lý luận chủ yếu cần tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, phát triển trong thời gian tới, như sau :

1- Nghiên cứu sâu sắc hơn bản chất và xu thế phát triển của thế giới đương đại; những biến động và thay đổi nhanh chóng, mang tính đột phá, phức tạp và đa chiều, tác động đến sự phát triển của tất cả các quốc gia trên thế giới; sự tác động đến công cuộc xây dựng và phát triển của nước ta trong gia đoạn mới.

Nghiên cứu về sự phát triển của chủ nghĩa tư bản hiện đại, những thay đổi của nó để thích ứng với sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học, kỹ thuật và công nghệ, nhất là trong điều kiện của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0; làm rõ những cơ hội và thách thức đặt ra đối với Việt Nam.

Nghiên cứu sâu sắc hơn quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế trong bối cảnh mới của thế giới; làm rõ những cơ hội, thách thức và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam trong công cuộc xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc.

Nghiên cứu các thành tựu mới về phát triển thể chế chính trị trên thế giới. Trên cơ sở nghiên cứu đó tiếp thu có chọn lọc những giá trị tích cực về xây dựng và đổi mới thể chế chính trị, phát triển theo định hướng XHCN ở Việt Nam.

Nghiên cứu sâu sắc hơn sự cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, nhất là giữa Mỹ và Trung Quốc, làm rõ những tác động đối với Việt Nam, trên cơ sở đó đề ra các chủ trương, chính sách thích ứng phù hợp, hiệu quả.

Nghiên cứu sâu sắc hơn những thay đổi lớn, quá trình tái cấu trúc và phát triển của nền kinh tế toàn cầu, nhất là giai đoạn “hậu Covid - 19”. Làm rõ những tác động đối với sự phát triển bền vững của nền kinh tế Việt Nam.

Nghiên cứu sâu sắc hơn thực trạng và những vấn đề đặt ra đối với sự phát triển của cộng đồng ASEAN trong giai đoạn mới; định vị phù hợp hơn, hiệu quả hơn vai trò của Việt Nam đối với sự phát triển của ASEAN.

2- Tiếp tục nghiên cứu những vấn đề cốt yếu, cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong bối cảnh phát triển mới. Đặc biệt, cần chú trọng nghiên cứu tổng kết cơ sở lý luận - thực tiễn quá trình Đảng ta vận dụng sáng tạo trong công cuộc đổi mới của Việt Nam, rút ra những bài học kinh nghiệm, những vấn đề cần tiếp tục đổi mới.

Nghiên cứu tổng hợp về bản chất, hình thức thể hiện và quá trình phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; đặt trong và gắn kết với dòng chảy phát triển của nhân loại. Tiếp tục nghiên cứu, phát triển nhận thức lý luận về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của nước ta, làm rõ tính hiện thực trong mỗi giai đoạn và trình độ phát triển.

Nghiên cứu cơ sở lý luận - thực tiễn về xây dựng và thực thi thể chế phát triển tổng hợp (đồng bộ về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái) đáp ứng với yêu cầu và bối cảnh phát triển của “trạng thái bình thường mới” hậu Covid – 19, đảm bảo sự phát triển nhanh - bền vững đất nước.

3- Tiếp tục nghiên cứu, phát triển nhận thức lý luận về mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, làm rõ và sâu sắc hơn cơ sở lý luận, cơ sở thực tế và những vấn đề cơ bản quyết định bản chất, cấu trúc của mô hình ấy trong điều kiện của thời ký quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Tiếp tục nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn để làm rõ hơn các mối quan hệ lớn cần giải quyết trong quá trình xây dựng, phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

4- Nghiên cứu cơ sở lý luận - thực tiễn để nhận diện, dự báo các xu hướng vận động, phát triển và biến đổi lớn của thế giới và khu vực, sự tác động tới Việt Nam, để trên cơ sở đó xác định rõ hơn cơ sở lý luận - thực tiễn cho xây dựng chiến lược, mục tiêu, phương hướng phát triển đất nước ta trong giai đoạn chiến lược mới.

5- Tiếp tục nghiên cứu, phát triển và hoàn thiện nhận thức lý luận về thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt cần tiếp tục nghiên cứu, làm rõ bản chất, đặc trưng và cơ chế vận hành, mối quan hệ, tác động qua lại của thể chế kinh tế ấy với các lĩnh vực khác của đời sống chính trị - xã hội, với đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Nghiên cứu làm rõ vai trò, vị trí, tính chất khách quan của các khu vực kinh tế, các chủ thể kinh tế (nhà nước, tư nhân, FDI, kinh tế cá thể, hộ gia đình…) trong quá trình phát triển; nghiên cứu cơ sở lý luận - thực tiễn cho việc xây dựng và phát triển nền kinh tế dân tộc mạnh, tính độc lập tự chủ cao, có năng lực hợp tác và hội nhập quốc tế hiệu quả.

Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng mô hình tăng trưởng - phát triển mới, phát triển theo chiều sâu, đáp ứng với yêu cầu, điều kiện phát triển của đất nước và bối cảnh quốc tế, đảm bảo cho đất nước phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn mới.

6- Tiếp tục nghiên cứu đồng bộ, sâu sắc hơn nhận thức lý luận về phát triển văn hoá, xã hội và con người. Nghiên cứu cơ sở lý luận - thực tiễn xây dựng hệ giá trị con người - văn hoá - xã hội Việt Nam, xây dựng hệ giá trị quốc gia - dân tộc đặc trưng của Việt Nam trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền, dân chủ hóa xã hội, phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế sâu rộng, làm cơ sở cho việc xây dựng và phát huy cao sức mạnh nội sinh, sức mạnh mềm của dân tộc, đảm bảo cho đất nước phát triển nhanh - bền vững.

Nghiên cứu cơ sở lý luận - thực tiễn cho việc xây dựng thể chế phát triển phù hợp, hiệu quả đối với các lĩnh vực xã hội, nhất là các lĩnh vực chủ yếu (giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, văn hóa, y tế…) trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, cách mạng công nghiệp 4.0.

Nghiên cứu cơ sở lý luận - thực tiễn về sự biến đổi của môi trường xã hội trên bình diện quốc tế, sự tác động tới môi trường xã hội ở Việt Nam, làm cơ sở cho việc xây dựng cơ chế, chính sách phát triển và quản lý phát triển xã hội hiệu quả trong giai đoạn mới.

7- Tiếp tục nghiên cứu phát triển nhận thức lý luận và cơ sở thực tiễn về hệ thống chính trị, nhất là về bản chất, chức năng, cơ cấu tổ chức - bộ máy, cơ chế vận hành của hệ thống chính trị trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, phát triển kinh tế thị trường và hội nhập qốc tế.

Tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện cơ sở lý luận - thực tiễn xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam theo các nguyên tắc pháp quyền, thượng tôn pháp luật, phát triển các chức năng kiến tạo của nhà nước, đề cao dân chủ, chủ quyền của nhân dân, quyền con người, quyền công dân, vừa tiếp cận với các giá trị chung của nhân loại vừa thể hiện các đặc trưng tiêu biểu của dân tộc Việt Nam, đáp ứng với yêu cầu phát triển của giai đoạn mới.

Tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu sâu sắc, toàn diện, đồng bộ cơ sở lý luận - thực tiễn về sự lãnh đạo - cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền, là đảng chính trị duy nhất cầm quyền; nghiên cứu và làm rõ những vấn đề lớn đang đặt ra như: vấn đề dân chủ trong đảng; vấn đề quyền lực chính trị của Đảng, vấn đề thể chế, phương thức, cơ chế Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, về mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân; vấn đề về kiểm soát và giám sát quyền lực, ngăn chặn sự tha hoá quyền lực.

 8- Nghiên cứu cơ sở lý luận - thực tiễn về những vấn đề bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; giữ gìn hoà bình và ổn định chính trị - xã hội, an ninh quốc gia cho công cuộc xây dựng, phát triển đất nước trong bối cảnh mới của thế giới và khu vực.

Nâng cao năng lực nghiên cứu dự báo về quốc phòng, an ninh, nhất là dự báo về những nguy cơ xâm phạm chủ quyền lãnh thổ, gây mất trật tự xã hội; nghiên cứu các nội dung và cơ chế tham gia các thể chế đa phương và song phương, xây dựng lòng tin chiến lược để góp phần bảo vệ độc lập, chủ quyền, hoà bình, ổn định cho đất nước, tham gia bảo vệ hoà bình và ổn định thế giới và khu vực.

Nghiên cứu các vấn đề mới về an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống, mâu thuẫn và xung đột xã hội, làm cơ sở xây dựng chiến lược, cơ chế, chính sách, giải pháp chủ động ứng phó, xử lý kịp thời, hiệu quả những tình huống có thể xảy ra.

Tiếp tục nghiên cứu toàn diện, sâu sắc hơn cơ sở lý luận - thực tiễn sự phát triển và biến đổi quan hệ quốc tế và khu vực trong bối cảnh mới, nhất là cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, đặc biệt là giữa Mỹ và Trung Quốc, làm rõ những tác động tới Việt Nam, cơ hội và thách thức. Trên cơ sở đó, tiếp tục đổi mới và hoàn thiện đường lối, cơ chế, chính sách đối ngoại, hợp tác và hội nhập quốc tế của đất nước trong giai đoạn mới.

Những đề xuất và kiến nghị trên đã được trình lên Tiểu ban Văn kiện Đại hội XIII cuả Đảng.

 

PV (Nguồn: Theo Báo cáo kết quả nghiên cứu của Đề tài KX.04.29/16-20)

 



            [1] Điều 4: Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc; là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội; Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình; các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

Tin Liên quan

Góp ý về nội dung bài viết