Thứ Ba, ngày 11 tháng 05 năm 2021

Các mục tiêu chính của Đại hội XIII là hiện thực, khách quan, đáp ứng trúng đòi hỏi phát triển của đất nước ​

Ngày phát hành: 12/03/2021 Lượt xem 2429

 

1. Các luận điệu sai trái, xuyên tạc cho rằng việc đề ra “các mục tiêu chính của Đại hội XIII là chủ quan, duy ý chí, không thực hiện được”

- Trong thời gian qua, nhất là trước thềm Đại hội XIII của Đảng, có nhiều ý kiến, bài viết trên blog, facebook cá nhân, trên các trang mạng xã hội xuyên tạc về thực hiện “ nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, họ cho rằng đã là “ kinh tế thì trường thì không thể có định hướng xã hội chủ nghĩa”, đây chẳng qua là “mị dân”, không tôn trọng quy luật khách quan, không tưởng; không có nền kinh tế nào là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; kinh tế thị trường,các quy luật của kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa là những yếu tố đối lập nhau, loại trù nhau; ghép định hướng xã hội chủ nghĩa vào kinh tế thị trường là sự gán ghép chủ quan, duy ý chí, không có cơ sở khoa học, không thuyết phục, làm nảy sinh nhiều mâu thuẫn; nếu bỏ cái đuôi “định hướng xã hội chủ nghĩa” thì đất nước còn phát triển nhanh hơn, kết quả đạt được còn lớn hơn nhiều. Họ cố tình không hiểu những mặt hạn chế, tiêu cực của kinh tế thị trường, tác động ảnh hưởng đến đời sống của người dân, rất cần đến chính sách an sinh xã hội, phúc lợi xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa vì hạnh phúc của nhân dân.

- Lợi dụng “góp ý” vào Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị tập trung xuyên tạc việc xác định các mục tiêu, họ cho rằng, đưa ra quá cao là“ chủ quan, duy ý chí”, “ không có cơ sở khoa học”, trong khi bối cảnh, tình hình trong nước và quốc tế luôn có nhiều biến động khó lường, không thực hiện được. Thực chất là họ muốn phủ nhận những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử của 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, cản trở bước tiến của đất nước trong những năm sắp tới mà Đảng ta đã xác định mục tiêu phấn đấu vì sự hùng cường, thịnh vượng của đất nước, vì hạnh phúc của nhân dân.

 

 

2. Luận cứ phê phán

2.1.Cần nhận thức đúng đắn, khách quan, cơ bản về mục tiêu và việc xác định mục tiêu phát triển của một quốc gia là rất quan trọng và rất cần thiết

Như chúng ta đã biết, mục tiêu là một ý tưởng của tương lai, hoặc kết quả mong muốn của một người hay một nhóm người đã hình dung ra, kế hoạch và cam kết thực hiện để đạt được. Những nỗ lực để đạt được mục tiêu trong một hữu hạn thời gian, bằng cách đặt ra hạn cuối cùng. Từ đó mà mỗi chủ thể đều có thể đặt mục tiêu cho riêng mình. Một quốc gia có thể đặt mục tiêu đạt mức thu nhập, đạt trình độ phát triển nào đó khi đến mốc thời gian xác định nào đó trong tiến trình phát triển. Khi xác định mục tiêu phải trả lời được hai câu hỏi đó là: Kết quả mong muốn đạt được là gì? Thời hạn đạt được kết quả đó trong bao lâu? Còn việc sử dụng phương pháp nào; lộ trình ra sao; cần chuẩn bị những công cụ, phương tiện nào… để thực hiện mong muốn đạt được mục tiêu đã đề ra là vấn đề thuộc chủ thể đặt ra mục tiêu phải tiến hành, nó không thuộc phạm vi nội hàm của mục tiêu.Xuất phát từ thực tiễn, có các cách tiếp cận phân định mục tiêu khác nhau, nếu phân định theo thời gian, mục tiêu có thể là dài hạn, trung hạn hoặc ngắn hạn. Sự khác biệt ở cách phân định này chính là thời gian cần thiết để đạt được mục tiêu đó. Nếu phân định theo kết quả mong muốn, mục tiêu có thể là mục tiêu tổng thể và mục tiêu cụ thể. Điểm căn cốt trong cách phân định này là mức độ, trình độ hay các điều kiện đảm bảo của chủ thể hiện có và tiềm năng để có thể đạt được mục tiêu đã xác định. Điều này đồng nghĩa với tính khả thi hay mức độ hiện thực của mục tiêu mà chủ thể xác định. Trên thực tế, các cách phân định này thường được sử dụng đồng thời, đan xen, trong đó với các tổ chức, quốc gia, cách phân định mục tiêu theo kết quả mong muốn sẽ được xem xét trước, trên cơ sở đó, mỗi đối tượng thuộc cấu phần của chủ thể mục tiêu tổng thể sẽ có những phân định mục tiêu theo thời gian trong lộ trình thực hiện mục tiêu tổng thể hoặc đó là sự cụ thể hóa của những mục tiêu cụ thể.

 Với mỗi quốc gia, trước hết, việc xác định mục tiêu phát triển sẽ được tiếp cận theo kết quả mong muốn, với cách phân định dựa trên kết quả mong muốn. Theo đó, mọi quốc gia luôn xác định mục tiêu tổng thể và mục tiêu cụ thể trên cơ sở đánh giá tổng quát về thực trạng phát triển, trình độ phát triển, bối cảnh phát triển, tiềm năng phát triển... trên cơ sở đó xác định tầm nhìn, xác định mục tiêu phát triển tổng thể và mục tiêu cụ thể của quốc gia. Chính vì vậy, mục tiêu phát triển ở mỗi quốc gia là không giống nhau kể cả có cùng trình độ phát triển.Từ thực tiễn vận hành các quốc gia cho thấy, xác định mục tiêu quốc gia là việc cụ thể hóa, hiện thực hóa tầm nhìn của lãnh đạo quốc gia về sự phát triển trong tương lai của quốc gia đó bằng việc định lượng những kết quả mong muốn mà quốc gia cần đạt được trong những khoảng thời gian xác định. Tuy nhiên, để xác định được mục tiêu quốc gia, đòi hỏi phải dựa trên việc phân tích, đánh giá đúng bối cảnh, diễn biến của tình hình quốc tế, xu thế phát triển của thời đại; nhận diện những thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức đang đặt ra, những mâu thuẫn lớn, cơ bản cần phải giải quyết để phát triển đất nước. Phân tích, đánh giá đúng hiện trạng phát triển của đất nước để có cơ sở lượng hóa tiềm năng phát triển của đất nước. Đây là những căn cứ quan trọng để xác định nhiệm vụ cần phải thực hiện để đạt được mục tiêu đã xác định.

2.2. Các căn cứ xác định mục tiêu phát triển của Việt Nam giai đoạn 2021- 2030 và tầm nhìn đến năm 2045

Từ thực tiễn lịch sử đấu tranh giành chính quyền, thống nhất Tổ quốc, xây dựng và phát triển đất nước hơn 90 năm qua kể từ khi có Đảng, hơn 75 năm có chính quyền; đặc biệt là 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, cho thấy việc xác định đúng đắn mục tiêu trong từng giai đoạn phát triển là yếu tố quyết định thắng lợi to lớn của cách mạng Việt Nam. Chính vì vậy, để lãnh đạo đất nước, mỗi khi chuẩn bị cho các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc, Đảng chỉ đạo nghiêm túc, bài bản, khoa học việc xây dựng dự thảo các Văn kiện trình Đại hội, trong đó quan trọng là Báo cáo chính trị - văn kiện trung tâm của Đại hội, vừa có giá trị tổng kết thực tiễn, kinh nghiệm, vừa xác định mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp và khâu đột phá chiến lược trên các lĩnh vực, các mặt công tác trong cả nhiệm kỳ cần phải thực hiện. Chuẩn bị cho Đại hội lần thứ XIII của Đảng tổ chức vào đầu năm 2021. Đảng đã chỉ đạo xây dựng dự thảo các văn kiện trình Đại hội. Do tầm quan trọng đặc biệt của Đại hội lần này, hướng tới kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng vào năm 2030 và 100 năm Quốc khánh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (nay là Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam) vào năm 2045, dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội được yêu cầu không chỉ xác định mục tiêu, nhiệm vụ phát triển đất nước trong 5 năm 2021 - 2025, mà còn phải xác định mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045. Đây là sự chỉ đạo có ý nghĩa quan trọng, mang tầm chiến lược; là sự kế thừa, phát huy những bài học kinh nghiệm, truyền thống quý báu của Đảng, là yêu cầu khách quan về sự phù hợp, đảm bảo tính thực tiễn và tính khả thi của mục tiêu phát triển và cũng là cơ sở để xác định chính xác những định hướng, nhiệm vụ, giải pháp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, phát triển đất nước, tạo sự đồng thuận, thống nhất về nhận thức, hành động của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân. Thực hiện dân chủ, cầu thị, lắng nghe ý kiến của các đại biểu quốc hội, các nhà khoa học, các chuyên gia, các nhà quản lý, quản trị, các bậc lão thành cách mạng và ý kiến đóng góp của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và các tầng lớp nhân dân về Dự thảo các văn kiện của Đảng - trung tâm là Báo cáo chính trị, trong đó có xác định các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2025, năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045. Đây là vấn đề rất hệ trọng, trong các lần hội thảo, toạ đàm, thảo luận rất sôi nổi, tựu trung có hai loại ý kiến: Loại ý kiến thứ nhất nhấn mạnh mục tiêu trở thành nước công nghiệp theo ý tưởng trong Văn kiện (từ Văn kiện Đại hội VIII đến nay), trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá đọ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), một số nghị quyết Trung ương, Bộ Chính trị từ khóa IX đến khóa XII, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001-2010, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020. Theo đó, xác định mục tiêu phấn đấu đưa nước ta trở thành nước công nghiệp hiện đại với ba mốc quan trọng: đến năm 2025, cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; đến năm 2030, trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; đến năm 2045 trở thành nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Loại ý kiến thứ hai cho rằng cần tham khảo cách phân loại các quốc gia theo xu hướng hiện nay của các tổ chức quốc tế. Theo đó, nên xác định mục tiêu theo trình độ phát triển.Để thống nhất nhận thức, thống nhất hành động cần có những phân tích căn bản, khoa học để có được căn cứ xác đáng cho việc xác định đúng mục tiêu phát triển đất nước - một vấn đề hệ trọng của đất nước.

Từ thực tiễn, chúng ta thấy rằng, không chỉ ở Việt Nam, mà ngay thế giới cũng đang tồn tại sự khác nhau trong cách phân loại quốc gia, thông qua việc hoạt động được thực hiện dựa trên việc đánh giá thành quả phát triển của mỗi quốc gia và sự khác nhau về cách tiếp cận. Với chức năng là những tổ chức quốc tế hình thành vì sự phát triển, các tổ chức quốc tế, như Liên Hợp quốc (UN), Ngân hàng Thế giới (WB), Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), Tổ chức Phát triển công nghiệp của Liên Hợp quốc (UNIDO) đã thường xuyên thực hiện việc phân loại các quốc gia để có những sự lựa chọn hỗ trợ phát triển phù hợp theo chức năng, nhiệm vụ của mình.Hiện đang tồn tại nhiều cách phân loại các quốc gia trên thế giới, một mặt, do những tổ chức này, có các chức năng, mục tiêu khác nhau nên đưa ra các cách phân loại khác nhau, nhưng có tham khảo, phối hợp, thống nhất với nhau ở nhiều nội dung; mặt khác, cũng do cách tiếp cận đánh giá phân loại, xác định mức độ, trình độ phát triển quốc gia còn có những phương cách khác nhau khi xác định mục tiêu phát triển quốc gia. Hiện nay, Liên Hợp quốc phân chia các nước trên thế giới thành ba loại: Nước kém phát triển; nước đang phát triển; nước phát triển, dựa trên cơ sở thu nhập bình quân đầu người. Mức thu nhập này được điều chỉnh theo các giai đoạn phát triển, dựa trên các số liệu của Ngân hàng Thế giới. Ngân hàng Thế giới phân loại các nước dựa trên thu nhập bình quân đầu người (GNI/người) thành bốn nhóm: Nước có thu nhập thấp; nước có thu nhập trung bình thấp; nước có thu nhập trung bình cao; nước có thu nhập cao.T ổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế định kỳ ba năm một lần rà soát và lựa chọn các nước đủ điều kiện nhận vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) cũng dựa trên chỉ số thu nhập bình quân đầu người để phân loại quốc gia được nhận hay không được nhận ODA, theo đó, phân loại thành các nước kém phát triển, đang phát triển hay nước phát triển. Riêng với UNIDO, do vai trò, chức năng của một tổ chức thúc đẩy phát triển công nghiệp ở các nước trên thế giới, nên thường sử dụng thuật ngữ “công nghiệp hóa” nhiều hơn là “phát triển”. Chính vì vậy, UNIDO lấy chỉ số giá trị gia tăng ngành công nghiệp chế biến (MVA) bình quân đầu người (MVA/người) làm tiêu chí xác định nước công nghiệp. Dựa trên tiêu chí này, UNIDO chia các nền kinh tế trên thế giới thành bốn nhóm: Các nước đã công nghiệp hóa; các nước công nghiệp mới nổi; các nước đang phát triển khác; các nước kém phát triển. Song, trong cách phân định này, UNIDO vẫn phải dựa trên chỉ số bình quân thu nhập đầu người, mặc dù bình quân thu nhập đầu người dựa trên gía trị gia tăng ngành công nghiệp chế biến (MVA/người). Điều này một mặt khẳng định chỉ số thu nhập bình quân đầu người là căn cứ quan trọng hàng đầu đối với mỗi quốc gia, là kết quả, là mục tiêu cần xác lập của mỗi quốc gia; mặt khác, cũng cho thấy điều chưa thực sự toàn diện trong cách phân loại quốc gia của UNIDO, vì chỉ số gia tăng công nghiệp chế biến chưa thể đủ bao quát, đại diện cho sự phát triển của một quốc gia, kể cả quốc gia đó là quốc gia thuần công nghiệp; hơn nữa, cũng chưa bao hàm được quốc gia mà sự phát triển không dựa trên công nghiệp do đặc thù riêng; đồng thời, với cách phân loại này cũng chưa đảm bảo tính thống nhất về tiêu chí: Nước đã công nghiệp hóa, hay nước công nghiệp mới nổi về thực chất là phản ánh quy trình chủ đạo vận hành nền kinh tế; các nước đang phát triển, các nước kém phát triển về bản chất chính là nói lên trình độ phát triển của một quốc gia trong điều kiện cụ thể.

Từ nhận thức trên, chúng ta thấy đến nay tạm thời đang tồn tại hai cách phân chia các quốc gia đó là chia các quốc gia thành: nước kém phát triển; nước đang phát triển và nước phát triển. Chia các quốc gia thành: Nước có thu nhập thấp; nước có thu nhập trung bình thấp; nước có thu nhập trung bình cao; nước có thu nhập cao. Hai cách phân loại này có sự liên thông, tương hỗ với nhau và đều dựa trên chỉ số thu nhập bình quân đầu người ở mỗi quốc gia. Các nước kém phát triển là những nước có thu nhập thấp, những nước đang phát triển là những nước có thu nhập trung bình, nước phát triển là những nước có thu nhập cao. Mặc dù không có một quy định chính thức, nhưng thuật ngữ “nước phát triển” và “nước đã công nghiệp hóa” được sử dụng thay thế nhau ở các văn bản của các tổ chức quốc tế. Việc đạt được chỉ số thu nhập bình quân đầu người ở mức độ nào phụ thuộc vào điều kiện thực tiễn, hiện trạng nền kinh tế và cách thức vận hành nền kinh tế phù hợp hay không phù hợp với bối cảnh trong nước và quốc tế.

Từ sự phân tích một cách cơ bản, khách quan, khoa học về mục tiêu và việc xác định mục tiêu phát triển của một quốc gia; căn cứ vào sự hợp lý trong các cách tiếp cận phân loại quốc gia và xuất phát từ hiện thực phát triển đất nước trong thời gian qua, giúp chúng ta thấy được những căn cứđể xác định đúng mục tiêu phát triển đất nước trong thời gian tới, đó là:

- Khi nói đến mục tiêu cần xác định hai vấn đề cơ bản: Kết quả mong muốn đạt được là gì? Thời hạn đạt kết quả đó trong bao lâu/khi nào? Xác định mục tiêu quốc gia là việc cụ thể hóa, hiện thực hóa tầm nhìn của lãnh đạo quốc gia về sự phát triển trong tương lai của quốc gia bằng việc định lượng những kết quả mong muốn mà quốc gia cần đạt được trong những khoảng thời gian được xác định.

 - Mục tiêu phát triển là dự báo tương lai, là đích phát triển mà quốc gia cần đạt được, nên phải là những thông số đo lường được, định lượng được. Điều kiện thực tiễn, bối cảnh phát triển, tiềm năng, giới hạn của sự phát triển, cách thức tổ chức, vận hành kinh tế - xã hội... là những căn cứ rất quan trọng cho việc xác định mục tiêu phát triển đối với mỗi quốc gia.

- Sự khác nhau trong các điều kiện phát triển, cũng không giống nhau trong cách thức tổ chức vận hành kinh tế-xã hội, nhưng để khẳng định sự phát triển của quốc gia trực tiếp hay gián tiếp, thì cuối cùng chỉ số thu nhập bình quân đầu người vẫn là căn cứ quan trọng hàng đầu đối với mỗi quốc gia, là kết quả, là mục tiêu, là đích đến của mỗi quốc gia trong từng giai đoạn phát triển.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam là một sự kiện chính trị trọng đại của dân tộc; là thời điểm nhìn lại chặng đường đất nước trải qua 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Cương lĩnh 1991), trong đó có 10 năm thực hiện Cương lĩnh (bổ sung, phát triển 2011) và 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020; đề ra phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 – 2025 (năm kỷ niệm 50 năm giải phóng hoàn toàn Miền Nam, thống nhất đất nước); xác định mục tiêu, phương hướng đến năm 2030 (năm kỷ niệm 100 năm Ngày thành lập Đảng) và tầm nhìn phát triển đất nước đến năm 2045 (năm kỷ niệm 100 năm Ngày thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Đây là những dấu mốc quan trọng, có ý nghĩa định hướng tương lai, cổ vũ, động viên sự đồng lòng của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững vì mục tiêu “ dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Việt Nam tiến hành Đại hội Đảng trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực có những diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường. Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn; song các mối đe dọa an ninh truyền thống, phi truyền thống, biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng gay gắt và đại dịch COVID-19, diễn tiến rất phức tạp, khó đoán định. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế tri thức, kinh tế số và xu hướng quốc tế hóa nguồn nhân lực vừa là thời cơ, vừa là thách thức đan xen với mọi quốc gia, trong đó có Việt Nam. Việc xác định mục tiêu phát triển đất nước là vô cùng quan trọng, bởi chỉ khi xác lập chính xác mục tiêu sẽ giúp cho chúng ta biết nên tập trung vào những lĩnh vực trọng yếu của quốc kế, dân sinh và chuẩn bị những điều kiện cơ bản, thiết yếu trong xây dựng kế hoạch, hoạch định lộ trình phát triển phù hợp với thực tiễn. Đảng và Nhà nước luôn chú trọng xây dựng Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội với các mục tiêu, quan điểm, nhiệm vụ và giải pháp tổng thể. Trong Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá XII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã xác định các mục tiêu:

- Phấn đấu đến năm 2025 : là nước công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp.

-  Đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng: Là nước công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao.

Đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập Nước: Trở thành nước phát triển,theo định hướng xã hội chủ nghĩa, có thu nhập cao.

      Việc xác định mục tiêu trên đây, có tính tới yếu tố Việt Nam vốn là nước nông nghiệp và phát triển trong bối cách của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, đang là xu hướng chủ đạo, nên việc ứng dụng, thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ trong từng ngành, lĩnh vực, trong từng lộ trình phát triển là một tất yếu khách quan, phù hợp với xu hướng phát triển của thế giới. Việc xác định mục tiêu gắn liền một cách chặt chẽ, nghiêm túc, khoa học với việc xây dựng các tiêu chí cụ thể và xác định được các khâu đột phá, để thực hiện mục tiêu có hiệu quả. Với ý nghĩa đó, đột phá chiến lược phản ánh các lựa chọn ở tầm vĩ mô, có ý nghĩa quyết định chiến lược. Đồng thời, đột phá chiến lược cũng hàm nghĩa tác động vào các khâu, các vấn đề, nội dung then chốt, cốt lõi để thực hiện thành công chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Việc xác định đúng và trúng các tiêu chí và các khâu đột phá chiến lược có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự phát triển đất nước, vì hạnh phúc của nhân dân. Xác định đột phá chiến lược phải dựa vào mục tiêu ưu tiên. Nội dung của cách tiếp cận xác định đột phá chiến lược dựa vào mục tiêu ưu tiên là: Xác định các mục tiêu ưu tiên và sắp xếp theo thứ tự ưu tiên phù hợp với từng giai đoạn và bảo đảm tính nhất quán trong khoảng thời gian thực hiện chiến lược; đồng thời,xác định các giải pháp tổng thể và các chính sách cơ bản để thực hiện các mục tiêu ưu tiên một cách có hiệu quả nhất. Thực chất, đó là quá trình xác định các đột phá cần phải thực hiện để đạt được các mục tiêu đã đề ra.

 

 

2.3. Việt Nam lựa chọn đột phá chiến lược giai đoạn 2021 – 2030 và tầm nhìn đến năm 2045 để thực hiện mục tiêu phát triển đất nước

Xuất phát từ những yêu cầu đặt ra trong bối cảnh mới. Trong thời gian sắp tới, tình hình thế giới và khu vực sẽ tiếp tục có sự thay đổi nhanh chóng và diễn biến phức tạp, trong đó cần đặc biệt chú ý đến sự chuyển dịch quyền lực chính trị giữa các nước lớn, sự cạnh tranh chiến lược tại nhiều khu vực trên thế giới, trong đó có khu vực Đông Nam Á. Đồng thời, xu hướng bảo hộ và tự do hóa thương mại cùng duy trì và cạnh tranh nhau gay gắt. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là xu hướng toàn cầu, đang tác động mạnh mẽ và tạo ra những thời cơ cũng như thách thức trong chiến lược phát triển của các quốc gia. Hơn nữa, biến đổi khí hậu cũng đang ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn, tác động đến hàng loạt vấn đề về môi trường và xã hội trên toàn cầu. Dịch bệnh covid-19 với những hệ lụy, có thể kéo theo một cuộc suy thoái hoặc khủng khoảng kinh tế trên phạm vi toàn thế giới.

 Thực tiễn phát triển đất nước cho thấy, yêu cầu phát triển nhanh, bền vững được đưa ra trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 vẫn tiếp tục phù hợp với giai đoạn tiếp theo. Phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong quá trình phát triển của Việt Nam giai đoạn tới 2025, 2030 và tầm nhìn đến năm 2045. Các nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội là hữu hạn, do vậy cần tập trung giải quyết trước những khâu yếu, “điểm nghẽn” đang cản trở sự phát triển. Con đường để Việt Nam trở thành một nền kinh tế phát triển và những thành tựu đạt được trong thời gian qua mới chỉ là bước đầu. Tác động của những cải cách thể chế và mô hình phát triển trong giai đoạn đầu dường như đã đạt đến giới hạn. Một vấn đề cấp thiết được đặt ra là việc điều chỉnh và thay đổi mô hình tăng trưởng để Việt Nam vượt qua bẫy thu nhập trung bình, trở thành nước có thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và là nước có thu nhập cao vào năm 2045.Việc khai thác, sử dụng và phát huy có hiệu quả các nguồn lực sẽ tạo xung lực mới, có sức mạnh lan tỏa, giải phóng mọi tiềm năng cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Việt Nam là một quốc gia có sự đa dạng đối với các thành phần trong cơ cấu kinh tế. Điều này là một lợi thế, nhưng cũng có rất nhiều khó khăn trong quá trình phát triển của đất nước, đòi hỏi cần có sự quản lý phù hợp và có sự đột phá, nhằm tạo ra sự lan tỏa, đem lại chất lượng và hiệu quả của nền kinh tế.

 Những vấn đề đạt ra trong xác định các đột phá trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 và tầm nhìn đến năm 2045:

Thứ nhất, đột phá chiến lược cần tập trung vào các khâu trọng yếu. Dựa vào cách tiếp cận nhằm xác định chiến lược phát triển của các quốc gia trên thế giới, có thể thấy những điểm đột phá nhằm tác động đến phát triển kinh tế đều tập trung vào các khâu trọng yếu của nền kinh tế. Đó là các yếu tố có tác động mạnh mẽ, mang tính quyết định đến chất lượng đầu ra của nền kinh tế, như nguồn nhân lực và vốn. Phát triển con người là nền tảng cốt lõi, cũng là mục tiêu cao nhất của phát triển kinh tế - xã hội. Bên cạnh đó, yếu tố vốn cũng đóng vai trò rất quan trọng đối với các quốc gia đang phát triển như nước ta. Ngoài ra, còn có năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP) cũng chiếm một phần ngày càng lớn trong tỷ lệ đóng góp cho tăng trưởng kinh tế. Các yếu tố tác động đến TFP có thể kể đến, như năng suất lao động, trình độ khoa học - công nghệ, hay thể chế kinh tế. Các yếu tố này đều là các khâu trọng yếu của nền kinh tế, là nền tảng giúp cho “cỗ máy” vận hành trơn tru, có tính lan tỏa đến các thành phần khác trong nền kinh tế, giúp nền kinh tế tăng trưởng nhanh và bền vững.

Thứ hai, đột phá chiến lược cần tập trung vào giải quyết các “điểm nghẽn” của nền kinh tế. Như đã đề cập ở trên, một nền kinh tế luôn phải giải quyết rất nhiều vấn đề để tăng trưởng, tuy nhiên, nguồn lực cho việc đó lại là hữu hạn và rất khan hiếm. Vì thế, việc lựa chọn sử dụng nguồn lực như thế nào cho hợp lý cũng rất quan trọng. Để làm được điều này, cần xác định đâu là “điểm nghẽn” của nền kinh tế, là “nút thắt” gây trở ngại cho sự phát triển của quốc gia. Từ đó, có thể tìm ra giải pháp thích hợp và đầu tư tập trung giải quyết, tháo gỡ khó khăn cho lĩnh vực đó, tránh đầu tư dàn trải gây thất thoát, lãng phí và thiếu hiệu quả.

Thứ ba, đột phá chiến lược cần đón bắt được thời cơ, hóa giải thách thức trong quá trình phát triển. Để xác định được điểm đột phá chiến lược cho nền kinh tế, không những cần quan tâm đến đặc điểm, điều kiện của quốc gia, mà còn phải nắm bắt được tình hình, bối cảnh quốc tế trong tương lai. Cần làm rõ những xu hướng về chính trị - kinh tế - xã hội trong thời gian sắp tới để đưa ra những dự báo, những tình huống giả định và đề ra những đường lối phát triển quốc gia sao cho phù hợp nhất. Nhận thức được những lợi thế và khó khăn của đất nước, đồng thời nắm bắt được cơ hội, phòng tránh và giải quyết các thách thức trong phát triển sẽ là chìa khóa quan trọng dẫn đến sự thành công phát triển của đất nước.

Thứ tư, đột phá chiến lược cần phát huy và khai thác tối đa lợi thế cạnh tranh. Lợi thế cạnh tranh quốc gia luôn được nhấn mạnh trong các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, không chỉ ở các quốc gia đang phát triển mà cả các quốc gia phát triển. Đây là yếu tố quyết định để cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, bảo đảm cho phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững. Xác định được lợi thế cạnh tranh quốc gia nhằm đưa ra giải pháp đột phá chiến lược mới có thể khai thác tối đa lợi thế này.

Thứ năm, thực hiện các đột phá chiến lược cần tạo động lực thúc đẩy phát triển, thực hiện các mục tiêu trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Các chiến lược phát triển luôn đề ra đường lối và cụ thể hóa bằng những mục tiêu, chỉ số cơ bản của không chỉ nền kinh tế mà còn của lĩnh vực văn hóa - xã hội, môi trường, quốc phòng - an ninh. Để đạt được điều này, việc xác định các khâu đột phá cần chú ý tới các chỉ tiêu quan trọng trong các lĩnh vực của Chiến lược phát triển, vì đây là thước đo rõ ràng nhất cho sự thành công của sự phát triển đất nước.

Nhìn lại ba đột phá chiến lược trong giai đoạn 2011 - 2020 cho thấy, Việt Nam đang ưu tiên lựa chọn đột phá chiến lược dựa vào tiếp cận “điểm nghẽn”. Đây là lựa chọn đúng trong giai đoạn 10 năm vừa qua và thực tiễn cho thấy, Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu, tạo tiền đề cho phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn tiếp theo. Tuy nhiên, trước yêu cầu mới, bối cảnh mới, tiếp cận mới, sự lựa chọn đột phá chiến lược cho giai đoạn 2021 - 2030 và tầm nhìn đến năm 2045, vừa cần bảo đảm khai thông “điểm nghẽn”, vừa cần kích hoạt các động lực cho tăng trưởng, đồng thời cần đạt được các mục tiêu ưu tiên đề ra trong phạm vi nguồn lực là hữu hạn. Với yêu cầu đó, phải lựa chọn trọng tâm, trọng điểm của các đột phá giai đoạn trước, đồng thời bổ sung những nội dung mới, những điểm đột phá mới là yêu cầu cần thiết và cấp bách trong giai đoạn hiện nay.Đột phá trong giai đoạn tới cần vừa kế thừa các đột phá chiến lược đã được đề xuất trong giai đoạn 2011 - 2020, đồng thời từ thực tiễn tình hình trong nước cũng như quốc tế có nhiều thay đổi, cần vừa cụ thể hóa và vừa bổ sung một số nội dung mới sau đây:

Một là, bổ sung nội dung hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Nội dung này nhấn mạnh hơn tới sự hoàn thiện thể chế phát triển, với trung tâm là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Đi cùng là bộ máy quản lý gọn nhẹ, với đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất đạo đức, liêm chính, trong sạch, có năng lực chuyên môn giỏi, sáng tạo, hết lòng phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Đây là những điều kiện quan trọng hàng đầu để bảo đảm nâng cao chất lượng thể chế.

Hai là, cụ thể hóa và bổ sung nội dung về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, có kỹ năng đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; thúc đẩy mạnh mẽ năng lực đổi mới sáng tạo; tập trung đào tạo, bồi dưỡng, thu hút nhân tài. Trong những năm cuối của thập niên vừa qua, thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã tác động mạnh, rộng lớn, sâu sắc đến mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Những thành tựu công nghệ mới, như trí tuệ nhân tạo (AI), phân tích dữ liệu lớn (big data), intơnét vạn vật (IoT), công nghệ rô-bốt, công nghệ sinh học, vật liệu mới tạo ra những phương tiện, phương thức sản xuất, giao tiếp, sinh hoạt chưa từng có trong lịch sử loài người; thúc đẩy sự hình thành và phát triển của các mô hình phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức, quản trị, quản lý,... hoàn toàn mới. Trên nền tảng đó, yêu cầu về chất lượng nguồn nhân lực chất lượng cao phải thay đổi, phải gắn với bối cảnh mới. Do đó, nhân lực đòi hỏi phải có nhiều kỹ năng mới mà đổi mới sáng tạo là yếu tố quyết định. Cùng với phát triển nhân lực chất lượng cao, chính sách bồi dưỡng, thu hút nhân tài cần được thực hiện một cách căn cơ, bài bản và mang tính chiến lược.

Ba là, cụ thể hóa và bổ sung nội dung về phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam; khơi dậy tinh thần yêu nước, sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, khát vọng phát triển và sức sáng tạo của nhân dân. Lịch sử Việt Nam cũng như thực tiễn ở các quốc gia phát triển thành công trên thế giới cho thấy, sự hùng cường của một quốc gia, dân tộc do nhân tố con người quyết định. Sự hùng cường được hun đúc nên từ cả nền tảng vật chất và giá trị tinh thần, như tinh thần yêu nước, đoàn kết dân tộc, đặc biệt là khát vọng phát triển và sức sáng tạo của nhân dân. Sự phát triển của Việt Nam năm đến 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và những năm tiếp theo phụ thuộc vào Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội tổng thể, dài hạn và toàn diện nhưng chắc chắn, sự thành công trong tương lai đòi hỏi con người Việt Nam cần có một khát vọng phát triển mãnh liệt, không ngừng sáng tạo và tinh thần yêu nước nồng nàn.

Bốn là, bổ sung nội dung tăng cường kết nối với khu vực và thế giới. Phát triển mạnh kết cấu hạ tầng, đặc biệt là kết cấu hạ tầng công nghệ thông tin, hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia, tạo nền tảng để phát triển nền kinh tế số, xã hội số. Trong những năm tới, để đi xa hơn, tiếp cận được nhiều thị trường, kết cấu hạ tầng giao thông của Việt Nam cần tiếp tục kết nối với khu vực và thế giới. Kết cấu hạ tầng công nghệ thông tin, tài nguyên, dữ liệu số cần phát triển tương xứng và đáp ứng xu hướng phát triển nền kinh tế số, xã hội số.

Năm là, bổ sung đột phá phát triển mạnh mẽ khoa học - công nghệ; xây dựng và tổ chức thực hiện có hiệu quả các chính sách để thúc đẩy ứng dụng công nghệ, nâng cao năng lực nghiên cứu và phát triển; hình thành hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia, hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo, lấy doanh nghiệp là trung tâm nghiên cứu phát triển, ứng dụng và chuyển giao công nghệ. Lý thuyết và thực tiễn ở các quốc gia đã khẳng định vai trò quan trọng của khoa học - công nghệ trong nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả trên tất cả các lĩnh vực hoạt động kinh tế - xã hội. Khoa học - công nghệ không những quyết định việc “sản xuất ra cái gì” mà còn “bằng phương thức nào”. Đây cũng là nhân tố quyết định sự khác biệt cũng như trình độ phát triển của mỗi quốc gia.

 Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Với hướng đi đúng đắn, hợp quy luật, ý chí vươn lên mãnh liệt, tinh thần đổi mới sáng tạo và quyết tâm chính trị cao, đất nước ta nhất định sẽ lập nên kỳ tích phát triển mới, sẽ bước vào một giai đoạn phát triển mới vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, thực hiện thành công tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và khát vọng phát triển đất nước hùng cường, thịnh vượng của toàn dân tộc”[1]

Chúng ta tin tưởng rằng, dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, với sự đồng lòng, đồng thuận cao của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, nhất định chúng ta sẽ đặt được những mục tiêu đã đề ra và giành được nhiều thắng lợi mới to lớn hơn nữa trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

 

TS. Nguyễn Văn Hùng

Hội đồng Lý luận Trung ương

 



[1] Bài phát biểu bế mạc của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, tại Hộinghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 14, khoá XII, ngày 18/12/2020, http://www.tapchicongsan.org.vn.

Đảng Cộng sản Việt Nam: Dự thảo các Văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng.

 

Tin Liên quan

Góp ý về nội dung bài viết