Chủ Nhật, ngày 26 tháng 05 năm 2024

Giải quyết mối quan hệ giữa kinh tế thị trường định hướng XHCN, Nhà nước pháp quyền XHCN và nền dân chủ XHCN nhằm hoàn thiên mô hình CNXH ở Việt Nam

Ngày phát hành: 26/10/2023 Lượt xem 1085

 

Trong những năm qua, nhận thức và thực hiện mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội đã có những chuyển biến tích cực và đạt nhiều kết quả quan trọng. Nhà nước đã thực hiện chức năng, vai trò của mình trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trên cơ sở tôn trọng vai trò, chức năng và nguyên tắc của thị trường và đề cao vai trò giám sát, phản biện của các tổ chức xã hội. Tuy nhiên, việc nhận thức và giải quyết mối quan hệ này còn có những hạn chế, yếu kém chưa thực sự đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế. Vì thế, việc xác định rõ, thực hiện đúng vị trí, vai trò, chức năng và mối quan hệ của Nhà nước, thị trường và xã hội phù hợp với kinh tế thị trường, bảo đảm đúng định hướng xã hội chủ nghĩa, tăng cường và giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng là cần thiết và có ý nghĩa quan trọng để phát triển nhanh và bền vững ở nước ta hiện nay.

 

I. Những nội dung chủ yếu về giải quyết  mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội trong thời gian tới

 

1. Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa XII về "Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả" đã xác định, tập trung xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa theo yêu cầu "Liêm chính - kỷ cương - hành động - sáng tạo - hiệu quả", coi đây là khâu trung tâm của xây dựng thể chế phát triển đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững đất nước trong giai đoạn mới.

 

Phương hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay gồm: Thứ nhất, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa phải đồng bộ ba lĩnh vực: Lập pháp, tư pháp và hành pháp, tức là xây dựng Nhà nước không chỉ là trách nhiệm của cơ quan hành pháp (Chính phủ), với tinh thần "Thượng tôn pháp luật", thực thi hiệu quả cao pháp luật mà còn phải có sự vào cuộc đồng bộ, mạnh mẽ của cơ quan lập pháp và tư pháp. Cơ quan lập pháp với nhiệm vụ xây dựng hệ thống pháp luật đầy đủ, đồng bộ, phù hợp với thực tiễn xã hội và thông lệ quốc tế nhằm thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển nhanh và bền vững. Cơ quan tư pháp phải giải quyết công việc thuộc trách nhiệm của mình (tài phán, xét xử, giải quyết tranh chấp...) một cách công tâm, minh bạch nhằm bảo đảm và tạo điều kiện thuận lợi để xã hội vận hành, phát triển ổn định và bền vững. Bên cạnh đó, cần xây dựng các thiết chế tư pháp hiện đại, trong sạch, hiệu lực, hiệu quả, dân chủ, nghiêm minh, dễ tiếp cận, bảo vệ pháp luật, công lý, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân.

 

Thứ hai, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa gắn với quá trình tinh gọn bộ máy nhà nước, theo Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa XII, về “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” và các nghị quyết của Quốc hội khóa 14, của Chính phủ về vấn đề này.

 

Thứ ba, nâng cao hiệu quả điều chỉnh, dẫn dắt, tăng cường vai trò định hướng, tạo môi trường ổn định, thông thoáng, minh bạch... của Nhà nước là yêu cầu cấp thiết của xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.

 

Thứ tư, phát triển nền hành chính phục vụ. Nền hành chính phục vụ là nền hành chính mà trong đó Nhà nước phải điều chỉnh cách quản lý sao cho thích ứng với xu thế chung của sự phát triển. Đó là nền hành chính mà Nhà nước là một bộ phận trong hệ thống xã hội và có trách nhiệm phục vụ sự phát triển xã hội. Theo đó, hoạt động của Nhà nước sẽ trở nên hiệu quả hơn và phục vụ công dân tốt hơn, đáp ứng tốt hơn yêu cầu phát triển đất nước.

 

 2. Tiếp tục hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Để tiếp tục hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cần tập trung vào các nội dung chủ yếu sau:

Một là, thể chế hóa quyền sở hữu tài sản, bao gồm: xác lập, thực hiện và bảo vệ quyền tài sản, với bốn điểm quan trọng: 1- Thể chế hóa đầy đủ quyền tài sản của Nhà nước, tổ chức, cá nhân theo quy định của Hiến pháp năm 2013; 2- Bảo đảm công khai, minh bạch quyền và nghĩa vụ trong thủ tục hành chính và dịch vụ công để quyền tài sản được giao dịch thông suốt; 3- Bảo đảm quyền quản lý, thu lợi của Nhà nước đối với tài sản công và quyền bình đẳng trong việc tiếp cận, sử dụng tài sản công của mọi chủ thể kinh tế; 4- Nâng cao năng lực của các thiết chế và hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp dân sự, kinh tế trong bảo vệ quyền tài sản.

 

Hai là, tiếp tục hoàn thiện thể chế, thúc đẩy phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, bao gồm: Đẩy mạnh việc xử lý nợ, thoái vốn, cổ phần hóa, cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước; thúc đẩy đổi mới, nâng cao trình độ công nghệ; áp dụng chế độ quản trị doanh nghiệp hiện đại để nâng cao hiệu quả, đồng thời kiểm tra, giám sát chặt chẽ hoạt động của doanh nghiệp, không để thất thoát, lãng phí vốn, tài sản nhà nước.

 

Nhà nước có chính sách hỗ trợ, khuyến khích phát triển các hợp tác xã, doanh nghiệp nhỏ và vừa, kinh tế hộ, trang trại nông nghiệp. Khuyến khích kinh tế tư nhân - một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đổi mới, nâng cao trình độ công nghệ, phát triển nguồn nhân lực, mở rộng thị trường, cải thiện thu nhập, điều kiện làm việc của người lao động và tham gia các hoạt động xã hội, bảo vệ môi trường, thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp.

 

Nâng cao hiệu quả các dự án hợp tác công tư trong lĩnh vực xây dựng kết cấu hạ tầng. Ưu tiên những dự án đầu tư nước ngoài có trình độ công nghệ cao, thân thiện với môi trường, sử dụng lao động có kỹ năng, đầu tư vào những ngành, lĩnh vực cần ưu tiên phát triển, có liên kết, chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp trong nước, tạo điều kiện cho doanh nghiệp trong nước tham gia có hiệu quả vào các chuỗi giá trị toàn cầu. Chuyển trọng tâm chính sách thu hút, hợp tác đầu tư nước ngoài từ số lượng sang chất lượng, có giá trị gia tăng cao, lấy hiệu quả và công nghệ sử dụng làm thước đo chủ yếu, quan trọng, nhất là đi cùng với bảo vệ môi trường, phát triển bền vững.

 

Ba là, tiếp tục hoàn thiện thể chế, phát triển đầy đủ, đồng bộ các yếu tố thị trường, các loại thị trường. Hoàn thiện, phát triển đầy đủ, đồng bộ các yếu tố thị trường, bao gồm: Thực hiện nhất quán cơ chế giá thị trường đối với hàng hóa, dịch vụ, kể cả dịch vụ công cơ bản; xây dựng khung pháp lý minh bạch và có hiệu lực để kiểm soát và điều chỉnh các hành vi lạm dụng vị thế độc quyền, cạnh tranh không lành mạnh, định giá cao, bán phá giá...; cải thiện môi trường kinh doanh, tạo điều kiện thông thoáng, phù hợp với thông lệ quốc tế cho các hoạt động kinh doanh..., thực hiện nguyên tắc công dân, doanh nghiệp được đầu tư, kinh doanh trong các ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm; hoàn thiện khung pháp lý bảo đảm quyền tự do ký kết và thực hiện hợp đồng và không hình sự hoá các tranh chấp dân sự về hợp đồng.

 

Xây dựng thể chế kinh tế thị trường, tôn trọng vai trò và chức năng của thị trường, coi thị trường là thực thể khách quan vận động và phát triển theo những quy luật vốn có; xây dựng môi trường kinh doanh ổn định, minh bạch, thông thoáng cho hoạt động của các chủ thể kinh doanh, chủ thể thị trường; bảo đảm quyền tự do kinh doanh, quyền sở hữu tài sản và những quy định về gia nhập và rút khỏi thị trường, phá sản doanh nghiệp, xử lý vi phạm hợp đồng, vi phạm pháp luật kinh doanh; xây dựng đồng bộ, đầy đủ các yếu tố thị trường và các loại thị trường; Nhà nước thực hiện vai trò dẫn dắt, điều chỉnh sự phát triển của hệ thống thị trường và quản lý, xây dựng bộ máy quản lý thị trường mạnh, hiệu quả, chính là những nhân tố tạo nên thị trường hoạt động hiệu quả, góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển nhanh, bền vững.

 

 3. Xây dựng thể chế để các tổ chức xã hội phát huy vai trò, chức năng của mình trong mối quan hệ này

Trước hết cần thống nhất nhận thức về phạm trù xã hội. Bởi hiện nay vẫn còn nhận thức khác nhau. Tuy nhiên, xã hội ở đây là nói đến các tổ chức xã hội được gắn kết với nhau bởi nhu cầu, lợi ích chung, các giá trị hoặc truyền thống chung để tiến hành nhiều hoạt động khác nhau nhằm phối hợp với Nhà nước, bổ sung khiếm khuyết của cả Nhà nước và thị trường, bảo đảm sự ổn định, cân bằng và phát triển bền vững của xã hội. Đây là một khu vực phi nhà nước, bao gồm: Hội, hiệp hội, liên hiệp, tổ chức cộng đồng, nhóm tình nguyện, tổ chức phi chính phủ... thực hiện các chức năng, vai trò xã hội hoặc mục đích nghề nghiệp, từ thiện, nhân đạo... nhất định; hoạt động chủ yếu dựa trên tính tự chủ về tài chính, tự quản trong tổ chức quản lý và sự tự nguyện của các thành viên, hội viên với mục tiêu phi lợi nhuận; đa dạng về hình thức tổ chức, phong phú về mục tiêu cụ thể. Các tổ chức xã hội này được thành lập theo quy định của pháp luật và được pháp luật bảo hộ.

Xây dựng thể chế để phát huy vai trò, chức năng của thành tố xã hội bao gồm các nội dung:

 

Một là, đẩy mạnh việc xây dựng và hoàn thiện cơ sở pháp lý để phát huy hiệu quả vai trò của thành tố xã hội - các tổ chức xã hội trong mối quan hệ với Nhà nước và thị trường.

 

Hai là, tạo lập đầy đủ cơ chế bảo đảm vai trò liên kết, phối hợp hoạt động để giải quyết những vấn đề phát sinh giữa các thành viên,... bảo đảm thực hiện chức năng phản biện luật pháp, cơ chế, chính sách của Nhà nước, giám sát các cơ quan và đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước trong việc thực thi pháp luật.

 

Ba là, thực hiện tốt và hiệu quả Quy chế Dân chủ ở cơ sở, qua đó thực sự phát huy vai trò của người dân, doanh nghiệp, các tổ chức chính trị - xã hội, nghề nghiệp và cộng đồng trong tham gia xây dựng, phản biện và giám sát thực hiện chính sách, pháp luật của Nhà nước.

 

Bốn là, tạo môi trường, cơ chế, chính sách để phát triển các tổ chức xã hội, đặc biệt là loại hình doanh nghiệp xã hội. Ở Việt Nam, doanh nghiệp xã hội lần đầu tiên được quy định tại Điều 10 Luật Doanh nghiệp năm 2014.

Theo đó, doanh nghiệp xã hội là doanh nghiệp được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam; mục tiêu hoạt động nhằm giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường vì lợi ích cộng đồng; sử dụng ít nhất 51% tổng lợi nhuận hằng năm của doanh nghiệp để đầu tư nhằm thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường như đã đăng ký.

 

Sự phát triển của doanh nghiệp xã hội sẽ thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội theo hướng văn minh, tiến bộ, phù hợp với định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Vì vậy, đây không chỉ là xu hướng chung của thế giới, mà còn rất cần thiết ở Việt Nam. Kinh nghiệm thế giới chỉ ra rằng, vai trò của Nhà nước với hệ thống pháp luật và chính sách là điều kiện thiết yếu để doanh nghiệp xã hội phát huy vai trò của mình.

 

II. Một số giải pháp để xử lý mối quan hệ giữa nhà nước, thị trường và xã hội ở nước ta trong thời gian tới

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định: “Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, giữa Nhà nước, thị trường và xã hội có quan hệ chặt chẽ. Nhà nước xây dựng và hoàn thiện thể chế, bảo vệ quyền tài sản, quyền kinh doanh, giữ ổn định kinh tế vĩ mô, các cân đối lớn của nền kinh tế; tạo môi trường thuận lợi, công khai, minh bạch cho các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội và thị trường hoạt động; điều tiết, định hướng, thúc đẩy kinh tế phát triển, gắn kết phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, đời sống nhân dân, bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh”[1].

 

Để giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội trong xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, cần tập trung thực hiện một số giải pháp sau đây:

 

Thứ nhất, tiếp tục nghiên cứu, tổng kết lý luận, đổi mới tư duy để nhận thức sâu sắc và đầy đủ hơn nữa về mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội trong xây dựng, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là mô hình kinh tế đặc thù, chưa có tiền lệ. Bên cạnh những đặc điểm chung của kinh tế thị trường, còn có đặc điểm riêng phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, do vậy, cần không ngừng tìm tòi, sáng tạo trong việc giải quyết mối quan hệ giữa Nhà nước với thị trường và xã hội trong mô hình này. Cần tìm hiểu, tiếp thu những quan điểm, kinh nghiệm mới từ thực tiễn kinh tế thế giới và thường xuyên phân tích, tổng kết mối quan hệ này trong thực tiễn phát triển kinh tế ở Việt Nam, lấy thực tiễn làm tiêu chuẩn cao nhất để kiểm nghiệm tính đúng đắn của lý luận.

 

Thứ hai, để điều tiết và can thiệp đúng đắn, hiệu quả đối với thị trường và xã hội, Nhà nước cần không ngừng hoàn thiện và nâng cao hiệu quả và năng lực hoạt động, hoàn thiện các công cụ quản lý, tác động đến thị trường và xã hội.

Nhà nước cần hoàn thiện thể chế kinh tế cùng với hệ thống các chính sách, pháp luật, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, kiên quyết chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí, đặc quyền, đặc lợi… nhằm đáp ứng được các yêu cầu phát triển mới của đời sống kinh tế - xã hội. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế - xã hội, để có thể nắm bắt được chính xác thực tiễn phát triển của thị trường và các vấn đề của xã hội, đưa ra được các chính sách phù hợp, đúng đắn, tạo điều kiện cho thị trường và xã hội phát triển.

 

Thứ ba, tránh giáo điều, bảo thủ, chủ quan, duy ý chí trong việc giải quyết mối quan hệ giữa Nhà nước với thị trường và xã hội thông qua việc thường xuyên lắng nghe, chịu sự giám sát, phản biện của các đoàn thể, nhân dân đối với các chính sách, biện pháp can thiệp của Nhà nước đối với thị trường và xã hội.

Để thực hiện được việc này, Nhà nước cần phát huy dân chủ, quyền làm chủ của nhân dân trong các hoạt động kinh tế, thực hiện nghiêm Quy chế Dân chủ ở cơ sở, quy chế giám sát đối với các hoạt động kinh tế của Nhà nước.

 

Thứ tư, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện đại, hội nhập quốc tế; phát triển mạnh mẽ các thành phần kinh tế và nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp.

Xây dựng, hình thành và phát triển đồng bộ các thị trường, như thị trường hàng hóa, dịch vụ, thị trường quyền sử dụng đất, thị trường lao động, thị trường bất động sản, thị trường tài chính, thị trường khoa học - công nghệ theo chuẩn mực quốc tế. Phát huy vai trò của thị trường trong giải phóng và phát triển năng lực sản xuất, phân bổ hiệu quả các nguồn lực; điều tiết hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Trong môi trường hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta ngày càng sâu rộng, cần tận dụng những yếu tố tích cực và hạn chế các yếu tố tiêu cực của thị trường thế giới tác động đối với thị trường trong nước; phát triển các yếu tố sản xuất trên nền tảng kỹ thuật và công nghệ số, phương thức giao dịch văn minh, hiện đại để thị trường hoạt động thông thoáng,…

 

Thứ năm, gắn kết phát triển kinh tế với phát triển văn hóa - xã hội, bảo đảm an sinh xã hội và phúc lợi xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, bảo vệ môi trường.

Thực hiện các chính sách phát triển và tăng trưởng kinh tế gắn với việc bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, tạo cơ hội cho tất cả mọi người thụ hưởng một cách chính đáng các thành quả của tăng trưởng và phát triển kinh tế, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Xây dựng các chính sách xã hội và quản lý phát triển xã hội phù hợp, giải quyết hài hòa các quan hệ xã hội, xử lý kịp thời các rủi ro, mâu thuẫn, xung đột xã hội, bảo đảm trật tự và an toàn xã hội, gắn chính sách phát triển kinh tế với chính sách xã hội. Phát hiện và xử lý kịp thời các tiêu cực xã hội, tạo sự đồng thuận xã hội để phát triển.

 

Cả phương diện lý luận và thực tiễn đều cho thấy, việc nắm vững và xử lý tốt, hài hòa mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội có tác động tích cực đến việc xử lý các mối quan hệ lớn khác mà Đại hội XIII của Đảng đã xác định; đồng thời khi xử lý tốt và đồng bộ 10 mối quan hệ sẽ giúp cho việc xử lý mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội thuận lợi và hiệu quả hơn. Nắm vững và xử lý hài hòa 10 mối quan hệ lớn có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội./.

 

Đại tá, PGS.TS Bùi Đình Bôn



[1]  Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr.130-131.

 

Tin Liên quan

Góp ý về nội dung bài viết