Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, Việt Nam đang quyết liệt triển khai đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Đây là một nhiệm vụ chiến lược, tạo động lực thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững, hiện thực hóa khát vọng xây dựng một Việt Nam hùng cường, thịnh vượng, văn minh. Nhiệm vụ này được xác định là ưu tiên hàng đầu, đòi hỏi sự quyết tâm cao, hành động quyết liệt của toàn Đảng, Nhà nước và sự đồng hành của toàn dân. Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đã triệt để lợi dụng internet, mạng xã hội và công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) để tung ra nhiều luận điệu sai trái, xuyên tạc, chống phá. Chúng phủ nhận thành tựu, bóp méo mục tiêu và tìm cách tách rời vai trò lãnh đạo của Đảng trong quá trình phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới, sáng tạo và chuyển đổi số. Vì vậy, nhận diện và phản bác các luận điệu chống phá là yêu cầu cấp bách, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng và giữ vững ổn định chính trị - xã hội.

Yếu tố nền tảng như hạ tầng số là một trong những "thỏi nam châm" thu hút doanh nghiệp FDI đầu tư vào công nghệ cao ở nước ta. Ảnh: qdnd.vn
1. Nhận diện các luận điệu xuyên tạc, chống phá về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia
Từ sau khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đã coi đây là một trọng điểm chống phá mới. Chúng triển khai hàng loạt hoạt động trên không gian mạng và các diễn đàn trong, ngoài nước nhằm xuyên tạc, bóp méo tinh thần, nội dung Nghị quyết và những chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước. Thủ đoạn của chúng ngày càng tinh vi, có sự kết hợp giữa “chiến tranh thông tin” và công nghệ hiện đại, đặc biệt là công nghệ trí AI, deepfake và mạng xã hội, khiến cho quá trình chống phá vừa khó nhận diện, vừa dễ lan tỏa với tốc độ nhanh chóng, trong đó tập trung vào một số luận điệu chủ yếu sau:
Một là, xuyên tạc mục tiêu phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số. Ngay sau khi Nghị quyết được công bố, trên các kênh phản động và mạng xã hội xuất hiện nhiều bài viết, video nhận định rằng các chỉ tiêu, mục tiêu như đến năm 2030 Việt Nam trở thành quốc gia có nền khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo tiên tiến trong khu vực, tỷ trọng kinh tế số đạt 30% GDP, hay làm chủ một số công nghệ chiến lược… là “quá sức”, “không thực tế”, “viển vông”, “không khả thi”. Chúng cố tình cắt xén thông tin, so sánh phiến diện với các nước phát triển để gieo rắc hoài nghi về năng lực lãnh đạo và tổ chức thực hiện của Đảng, Nhà nước. Âm mưu sâu xa là làm giảm niềm tin xã hội, từ đó cản trở tiến trình triển khai Nghị quyết ngay từ bước đầu.
Hai là, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lợi dụng khẩu hiệu “tự do học thuật”, “tự do sáng tạo” để cổ súy quan điểm phi chính trị hóa lĩnh vực khoa học, công nghệ. Chúng tuyên truyền rằng “khoa học phải tách khỏi sự lãnh đạo của Đảng”, “nghiên cứu khoa học không cần định hướng chính trị”, “sáng tạo không thể bị ràng buộc bởi thể chế”. Chúng cố tình tuyên truyền rằng Đảng “không có năng lực dẫn dắt cách mạng công nghiệp lần thứ tư”, “can thiệp sâu, kìm hãm thị trường công nghệ”, hoặc “sao chép mô hình nước ngoài”. Nhiều bài viết trên các trang phản động còn so sánh phiến diện, lấy một vài chậm trễ cục bộ về hạ tầng hay chính sách làm “bằng chứng” cho rằng Việt Nam “thiếu sáng tạo, đi sau khu vực hàng thập kỷ”. Bản chất của luận điệu này là phủ nhận tính định hướng xã hội chủ nghĩa trong hoạt động khoa học, tách rời khoa học, công nghệ khỏi nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, hướng hoạt động nghiên cứu theo quỹ đạo “tự do tuyệt đối”, “trung lập chính trị”, phủ nhận sự lãnh đạo toàn diện của Đảng đối với lĩnh vực khoa học, công nghệ, nhằm tác động trực tiếp đến đội ngũ trí thức, nhà khoa học, gây hoang mang, nghi ngờ và làm phai nhạt niềm tin chính trị.
Ba là, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị còn xuyên tạc chủ trương phát triển kinh tế số và xã hội số, cho rằng Việt Nam “ép buộc số hóa”, “lệ thuộc vào công nghệ ngoại nhập” hoặc “chuyển đổi số chỉ phục vụ lợi ích nhóm”. Chúng lợi dụng một số hiện tượng bất cập như chậm triển khai hạ tầng viễn thông, nguy cơ mất an ninh mạng, rò rỉ dữ liệu cá nhân… để quy chụp rằng “chuyển đổi số chỉ là hình thức”, “xâm phạm quyền riêng tư”, “mất chủ quyền dữ liệu quốc gia”. Thậm chí, một số tổ chức, cá nhân cố tình đánh tráo khái niệm giữa “quản trị số hiện đại” với “giám sát công dân”, vu cáo Nhà nước “dùng công nghệ để kiểm soát xã hội”. Mục tiêu của chúng là phá hoại niềm tin của nhân dân vào Nhà nước số, cản trở tiến trình chuyển đổi số quốc gia².
Bốn là, hạ thấp năng lực đổi mới sáng tạo của Việt Nam, cho rằng Việt Nam “không có khả năng sáng tạo nội sinh”, “chỉ là công xưởng giá rẻ” hay “phụ thuộc hoàn toàn vào đầu tư nước ngoài”. Một số kênh truyền thông thù địch thậm chí quy chụp rằng “Make in Vietnam chỉ là khẩu hiệu”, “chính phủ bảo hộ doanh nghiệp trong nước, gây méo mó thị trường”. Đây là luận điệu hết sức nguy hiểm, bởi nó đánh thẳng vào niềm tự hào dân tộc và tinh thần tự cường, tìm cách triệt tiêu ý chí sáng tạo của đội ngũ doanh nhân, kỹ sư, trí thức - những chủ thể đang đóng vai trò trung tâm trong công cuộc phát triển và chuyển đổi số.
Năm là, chúng còn lợi dụng tiến trình chuyển đổi số để xuyên tạc vấn đề dân chủ, nhân quyền và “kiểm soát xã hội”. Các bài viết, podcast, video tuyên truyền sai lệch cho rằng “chính phủ số là công cụ kiểm soát dân chúng”, “ứng dụng công nghệ xâm phạm quyền riêng tư”, “dữ liệu quốc gia bị thao túng”. Thậm chí, một số tổ chức quốc tế thiếu thiện chí đã phát hành “báo cáo nhân quyền mạng”, cố tình bóp méo quy định pháp luật Việt Nam về an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân, nhằm tạo sức ép chính trị, can thiệp nội bộ. Thực chất, đây là biểu hiện của chiến lược “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng, với mục tiêu làm suy yếu thể chế, kích động tâm lý phản đối và tạo cớ cho các hoạt động chống phá dưới danh nghĩa “tự do ngôn luận”.
Những luận điệu xuyên tạc, sai trái trên được lan truyền qua mạng xã hội, blog, YouTube, podcast hoặc các trang thông tin núp bóng “chuyên gia phân tích” do tổ chức phản động điều hành từ nước ngoài. Chúng sử dụng thủ pháp cắt ghép, trích dẫn sai lệch từ các báo cáo quốc tế để “hợp pháp hóa” luận điểm, đồng thời khai thác một số sự cố, vướng mắc trong chuyển đổi số để khuếch đại thành “khủng hoảng toàn hệ thống”. Sự nguy hiểm của chúng nằm ở chỗ ngụy trang bằng ngôn ngữ khoa học, kỹ thuật, có vẻ “khách quan, chuyên môn”, khiến nhiều người đọc, đặc biệt trong giới trí thức, sinh viên và doanh nhân công nghệ, dễ bị dao động, dẫn đến hoài nghi và mất cảnh giác. Mục tiêu sâu xa duy nhất là phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, xóa bỏ định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển khoa học, công nghệ, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân, làm suy yếu niềm tin của nhân dân vào con đường phát triển độc lập, tự chủ mà Việt Nam đang kiên định theo đuổi. Bản chất của chúng là một phần trong chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam, sử dụng không gian số làm “mặt trận mềm” để tấn công vào nền tảng tư tưởng, làm biến đổi nhận thức chính trị, gây bất ổn về niềm tin xã hội.
2. Luận cứ phản bác các luận điệu chống phá về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia
Về lý luận
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, khoa học, công nghệ là lực lượng sản xuất trực tiếp, là nhân tố quyết định năng suất lao động xã hội và trình độ phát triển của một hình thái kinh tế - xã hội. C.Mác chỉ rõ: “Tri thức xã hội phổ biến (wissen knowledge) đã chuyển hóa đến mức độ nào đó thành lực lượng sản xuất trực tiếp”[2]. Đây là sự khái quát mang tính biện chứng, chỉ ra bước phát triển mới của lực lượng sản xuất trong thời đại công nghiệp, khi khoa học không chỉ dừng lại ở vai trò phục vụ sản xuất mà bản thân nó đã trở thành một yếu tố trực tiếp tạo ra năng suất mới, phương thức sản xuất mới, góp phần thúc đẩy sự biến đổi toàn diện của nền kinh tế - xã hội.
Khoa học có vai trò là một động lực lịch sử, một lực lượng cách mạng, đồng thời cũng là một tác nhân, một lực lượng trong lực lượng sản xuất xã hội. Ph.Ănghen cho rằng: “khoa học thì ngày lại càng làm cho các lực lượng tự nhiên phải phục tùng loài người”[3]. Nó thúc đẩy sản xuất phát triển, làm thay đổi bộ mặt thế giới nhanh chóng: “chúng ta sẽ hài lòng nhận thấy rằng, công việc trong lĩnh vực khoa học cũng được bù đắp về mặt vật chất, rằng chỉ một thành quả của khoa học như chiếc máy hơi nước của Giêm xơ Oát, trong năm mươi năm tồn tại đầu tiên của nó cũng đã mang lại cho thế giới nhiều hơn so với cái mà thế giới đã chi phí ngay từ đầu cho sự phát triển của khoa học”[4]. Các ông còn coi khoa học là lĩnh vực sản xuất trí óc, xem xét khoa học với tư cách là một tiềm lực sản xuất độc lập và khoa học gia nhập quá trình lao động với tư cách “một sức mạnh độc lập”. Các ông viết, “Chỉ riêng sự phát triển của khoa học - nghĩa là của hình thái của cải căn bản nhất, vừa là sản phẩm, vừa là nhân tố sản xuất ra của cải, cũng đủ để làm cho các xã hội ấy tan rã. Nhưng sự phát triển của khoa học, một thứ của cải lý tưởng và đồng thời mang tính chất thực tế ấy chỉ là một trong những mặt, một trong những hình thức, qua đó sự phát triển của lực lượng sản xuất của con người, nghĩa là sự phát triển của của cải, biểu hiện ra”[5]. Qua đó có thể thấy, khoa học, công nghệ là nguồn lực vật chất đặc biệt, là động lực trực tiếp của sự phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời là yếu tố quyết định làm thay đổi các quan hệ sản xuất, hình thái kinh tế - xã hội và tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại. Mỗi bước tiến của khoa học đều kéo theo một bước tiến trong sản xuất, và cùng với nó là một bước tiến trong đời sống xã hội
Kế thừa quan điểm đó, V.I.Lênin khẳng định, trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, khoa học và kỹ thuật phải trở thành công cụ chủ động của chính quyền vô sản, là động lực then chốt để xây dựng nền kinh tế mới. Nói tới khoa học là nói tới sự tìm tòi, khám phá, tìm ra, sáng tạo, là quá trình nâng cao nhận thức lên một trình độ mới. Vận dụng sáng tạo học thuyết khoa học của chủ nghĩa Mác vào thực tiễn cách mạng Nga, V.I. Lênin khẳng định vai trò to lớn của khoa học và công nghệ trong xây dựng chủ nghĩa xã hội. Ông coi việc tiếp thu tri thức và thành tựu kỹ thuật tiên tiến của nhân loại là con đường tất yếu để phát triển đất nước, phát triển khoa học, công nghệ là động lực then chốt của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, là phương tiện để cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới tiên tiến, văn minh.
Thấm nhuần, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định khoa học, công nghệ là động lực của tiến bộ xã hội, là nền tảng phát triển kinh tế - văn hóa của dân tộc. Người chỉ rõ: “Khoa học phải từ sản xuất mà ra và phải trở lại phục vụ sản xuất, phục vụ quần chúng, nhằm nâng cao năng suất lao động và không ngừng cải thiện đời sống của nhân dân, bảo đảm cho chủ nghĩa xã hội thắng lợi”[7]. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, khoa học phải gắn bó chặt chẽ với sản xuất và đời sống, phải xuất phát từ thực tiễn, đồng thời quay trở lại phục vụ thực tiễn. Người còn khẳng định: “Cách mạng xã hội chủ nghĩa gắn liền với sự phát triển khoa học và kỹ thuật, với sự phát triển văn hóa của nhân dân”[8], nhấn mạnh yêu cầu dân chủ hóa tri thức, đưa khoa học đến với nhân dân. Khoa học công nghệ phải hướng đến con người, phục vụ con người, góp phần nâng cao dân trí, phát triển lực lượng sản xuất và thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Trên cơ sở vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta luôn coi phát triển khoa học, công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Văn kiện Đại hội X của Đảng nêu rõ: “Giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”[9]. Đến Đại hội XII, Đảng tiếp tục khẳng định: “Phát triển mạnh mẽ khoa học và công nghệ, làm cho khoa học và công nghệ thực sự là quốc sách hàng đầu, là động lực quan trọng nhất để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, kinh tế tri thức...”[10]. Đại hội XIII chủ trương “đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số dựa trên nền tảng khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo”[11], trong đó con người hay tài nguyên trí tuệ là nền tảng cốt lõi, doanh nghiệp phải là trung tâm nghiên cứu phát triển, ứng dụng và chuyển giao công nghệ, ứng dụng công nghệ số.
Trước sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và xu thế chuyển đổi số toàn cầu, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Đây là dấu mốc quan trọng, khẳng định quyết tâm chính trị trong xây dựng nền kinh tế số, xã hội số, từng bước làm chủ công nghệ lõi, hiện thực hóa khát vọng trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045. Nghị quyết xác định: “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới”[12]. Chủ trương này không chỉ có đầy đủ cơ sở khoa học, nhất quán với chủ trương của Đảng, Nhà nước ta mà còn phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại số. Do đó, mọi luận điệu cố tình phủ nhận quan điểm, chủ trương của Đảng ta về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới, sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là phủ nhận xu hướng phát triển khách quan của thời đại.
Về thực tiễn
Thực tiễn những năm gần đây, Việt Nam đã đạt được những kết quả quan trọng trong phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số. Tốc độ phát triển của lĩnh vực này không chỉ được ghi nhận trong nước mà còn được quốc tế công nhận. Theo Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), xếp hạng GII của Việt Nam liên tục cải thiện, từ vị trí 59 (năm 2016) lên 44 (năm 2024) và giữ vững thứ hạng này trong năm 2025. Theo Báo cáo GII 2025, Việt Nam được xếp hạng 44/139 quốc gia, nền kinh tế, duy trì thứ hạng năm 2024. Việt Nam tiếp tục có sự cải thiện thứ hạng đầu vào đổi mới sáng tạo, tăng 3 bậc so với năm 2023, từ vị trí 53 lên 50 (đầu vào đổi mới sáng tạo. Việt Nam là một trong 9 quốc gia thu nhập trung bình cải thiện thứ hạng nhanh nhất tính từ năm 2013; là một trong 2 quốc gia giữ kỷ lục có thành tích vượt trội so với mức độ phát triển trong 15 năm liên tiếp (gồm Ấn Độ và Việt Nam)[13]. Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong thời gian qua đã khẳng định rõ năng lực lãnh đạo đúng đắn của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước, đồng thời phản ánh sức sáng tạo, tự lực, tự cường của dân tộc Việt Nam. Thực tiễn đó bác bỏ hoàn toàn luận điệu cho rằng Việt Nam “thiếu năng lực sáng tạo nội sinh” hay “chỉ dựa vào chuyển giao công nghệ nước ngoài”.
Bên cạnh đó, hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo của Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ với hơn 3.800 doanh nghiệp khởi nghiệp công nghệ, hàng trăm quỹ đầu tư mạo hiểm, trung tâm đổi mới sáng tạo và khu công nghệ cao trên toàn quốc[14]. Sự hình thành của Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia (NIC) và các trung tâm công nghệ tại Hà Nội, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy Nhà nước đã và đang đóng vai trò kiến tạo, điều tiết chứ không áp đặt, tạo môi trường cho thị trường khoa học, công nghệ phát triển cạnh tranh, minh bạch, hiệu quả. Sự vươn lên của các tập đoàn công nghệ trong nước như Viettel, VNPT, FPT, Vingroup, MoMo, MISA, TMA... chứng minh năng lực sáng tạo và khả năng cạnh tranh quốc tế ngày càng tăng. Chỉ riêng năm 2024, doanh thu ngành công nghiệp ICT đạt khoảng 148 tỷ USD, tăng 10% so với năm trước[15]. Việt Nam cũng nằm trong top 10 nước xuất khẩu phần mềm lớn nhất thế giới, tham gia sâu vào chuỗi giá trị công nghệ toàn cầu[16]. Những kết quả đó phản bác dứt khoát luận điệu cho rằng Việt Nam “không có doanh nghiệp công nghệ tầm khu vực” hoặc “chỉ sao chép công nghệ nước ngoài”.
Việt Nam luôn khẳng định chuyển đổi số gắn với bảo vệ quyền con người và an ninh thông tin. Các văn bản pháp luật như Luật An ninh mạng (năm 2018), Nghị định 13/2023/NĐ-CP về bảo vệ dữ liệu cá nhân, cùng hệ thống các tiêu chuẩn quốc gia về an toàn thông tin mạng đã tạo hành lang pháp lý rõ ràng, minh bạch, phù hợp với chuẩn mực quốc tế. Những quy định này không nhằm kiểm soát tự do, mà để bảo đảm an ninh quốc gia, quyền riêng tư và quyền tiếp cận thông tin của công dân trong môi trường số. Trái với luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, Việt Nam không “kiểm duyệt thông tin” theo nghĩa cấm đoán, mà quản lý thông tin nhằm chống lại hành vi lợi dụng không gian mạng để xâm hại lợi ích quốc gia, trật tự xã hội và danh dự, nhân phẩm của công dân. Đây là nguyên tắc quản trị số phổ quát được áp dụng tại nhiều quốc gia như Đức, Pháp, Singapore, Hàn Quốc...
Trên thực tế, chuyển đổi số không làm mất đi tự do hay chủ quyền dữ liệu, trái lại, đã nâng cao hiệu quả quản trị và chất lượng dịch vụ công. Đến cuối năm 2024, 100% bộ, ngành, địa phương vận hành hệ thống điều hành điện tử; hơn 80% dịch vụ công trực tuyến đạt mức độ 4; các cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, đất đai, bảo hiểm xã hội được liên thông, giúp giảm chi phí hành chính, tiết kiệm hàng nghìn tỷ đồng mỗi năm[17]. Điều này là bằng chứng sinh động bác bỏ luận điệu cho rằng chuyển đổi số ở Việt Nam chỉ là hình thức hoặc vi phạm quyền riêng tư của công dân. Việc các tổ chức quốc tế thiếu thiện chí quy chụp chính sách bảo vệ an ninh mạng của Việt Nam là “vi phạm nhân quyền” không chỉ thiếu căn cứ mà còn phản ánh định kiến chính trị rõ ràng.
Như vậy, có thể khẳng định rằng đường lối phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp xu thế thời đại, đồng thời mang bản sắc độc lập, tự chủ của quốc gia xã hội chủ nghĩa. Việt Nam đã, đang và sẽ tiếp tục bước đi vững chắc trên con đường phát triển khoa học, công nghệ hiện đại, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số toàn diện, góp phần khẳng định vị thế đất nước trong kỷ nguyên số, củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và con đường xã hội chủ nghĩa mà dân tộc đã lựa chọn. Những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng hoặc hạ thấp thành tựu của Việt Nam đều phiến diện, thiếu cơ sở khoa học và trái ngược thực tế khách quan.
3. Giải pháp đấu tranh phản bác các luận điệu chống phá về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và bùng nổ thông tin hiện nay, đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không chỉ là nhiệm vụ chính trị - tư tưởng, mà còn là yêu cầu khách quan để bảo vệ niềm tin xã hội, nền tảng tri thức và an ninh quốc gia trên không gian số. Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, cần triển khai đồng bộ một số giải pháp cơ bản sau:
Một là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý thống nhất của Nhà nước trong phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số. Tiếp tục cụ thể hóa và thể chế hóa các nghị quyết của Đảng, nhất là Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Các cấp ủy, tổ chức đảng cần tăng cường kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết việc thực hiện chủ trương, chính sách, kịp thời phát hiện và chấn chỉnh các biểu hiện buông lỏng lãnh đạo, thiếu trách nhiệm, hoặc hiểu sai về đổi mới sáng tạo. Đồng thời, phát huy vai trò nêu gương, tính tiên phong của cán bộ, đảng viên trong cơ quan khoa học, công nghệ, thông tin và truyền thông, tạo sức lan tỏa và củng cố niềm tin chính trị cho đội ngũ trí thức, chuyên gia và nhân dân.
Hai là, nâng cao nhận thức, bồi dưỡng năng lực truyền thông, chủ động đấu tranh với quan điểm sai trái, thù địch. Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch phải dựa trên cơ sở khoa học, lý luận và thực tiễn rõ ràng, tránh cảm tính hoặc phản ứng tình huống. Các cơ quan nghiên cứu, viện, trường, cơ sở đào tạo cần đẩy mạnh nghiên cứu lý luận về mối quan hệ giữa khoa học, công nghệ và định hướng xã hội chủ nghĩa, về an ninh công nghệ, chủ quyền dữ liệu, quản trị số nhân văn, cũng như các vấn đề mới nảy sinh từ trí tuệ nhân tạo, Internet vạn vật, dữ liệu lớn. Từ đó, chủ động đổi mới nội dung, đa dạng hóa hình thức phương pháp tuyên truyền và giáo dục chính trị tư tưởng. Tăng cường năng lực truyền thông chiến lược, xây dựng hệ sinh thái truyền thông chính thống mạnh mẽ, hiện đại, hấp dẫn, có khả năng dẫn dắt, định hướng dư luận xã hội và phản bác hiệu quả thông tin sai lệch.
Phát huy vai trò của các nền tảng truyền thông số quốc gia (như VTVGo, VTCNow, VNEID, Cổng thông tin Chính phủ điện tử...), đồng thời khuyến khích các tổ chức, doanh nghiệp công nghệ trong nước tham gia bảo vệ không gian thông tin sạch. Các cơ quan báo chí, đặc biệt là báo lý luận chính trị, cần đổi mới hình thức thể hiện, sử dụng ngôn ngữ gần gũi, khoa học, sinh động, kết hợp các sản phẩm truyền thông đa phương tiện, infographic, podcast, video ngắn, để truyền tải thông điệp tích cực, kịp thời phản bác luận điệu sai trái bằng chứng cứ và lập luận xác đáng. Đồng thời, cần đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ “chuyên gia phản bác số” - những cán bộ, giảng viên, nhà khoa học am hiểu công nghệ, có kỹ năng truyền thông mạng xã hội, có khả năng tham gia trực tiếp vào không gian mạng để giải thích, phản biện, bảo vệ quan điểm chính thống bằng ngôn ngữ hiện đại, khoa học, dễ tiếp nhận.
Ba là, hoàn thiện cơ chế, chính sách và pháp luật về an ninh mạng, dữ liệu số và bảo vệ quyền con người trong không gian số. Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, đặc biệt là luật hóa các quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân, an toàn thông tin, an ninh mạng và chủ quyền số quốc gia. Việc này không chỉ bảo đảm tính minh bạch, công bằng và cạnh tranh lành mạnh trong thị trường công nghệ, mà còn là cơ sở pháp lý vững chắc để phản bác các luận điệu xuyên tạc về “kiểm soát thông tin” hay “hạn chế quyền tự do trên mạng”. Tăng cường kiểm tra, xử lý nghiêm các hành vi lợi dụng chuyển đổi số để phát tán thông tin xấu độc, tấn công mạng, lừa đảo công nghệ cao, xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Việc xử lý phải kịp thời, công khai, minh bạch để củng cố lòng tin của nhân dân, đồng thời khẳng định tính nghiêm minh của pháp luật Việt Nam và tính hợp pháp của quản trị số mang bản sắc xã hội chủ nghĩa.
Bốn là, phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị, các tầng lớp nhân dân và cộng đồng trí thức, doanh nghiệp công nghệ. Đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái là trách nhiệm của toàn xã hội, dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng. Do đó, cần huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, trong đó cơ quan tuyên giáo, thông tin - truyền thông, giáo dục - đào tạo, an ninh - quốc phòng phải phối hợp chặt chẽ, tạo thành mặt trận thống nhất giữa lý luận, thực tiễn, truyền thông và pháp lý. Đặc biệt, cần phát huy vai trò của đội ngũ trí thức, chuyên gia, doanh nhân công nghệ, những người trực tiếp tham gia vào công cuộc đổi mới sáng tạo, có ảnh hưởng xã hội rộng. Khi họ được tạo điều kiện phát huy năng lực, được bảo vệ quyền lợi hợp pháp, tiếng nói của họ sẽ trở thành “lá chắn mềm” chống lại luận điệu sai trái, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Đồng thời, phát huy vai trò của tổ chức đoàn thể, hiệp hội ngành nghề, cơ sở giáo dục và truyền thông cộng đồng trong tuyên truyền, lan tỏa các giá trị tích cực của chuyển đổi số, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là nhiệm vụ chiến lược, thường xuyên và lâu dài, trực tiếp góp phần bảo đảm phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số diễn ra lành mạnh, hiệu quả, bền vững. Điều đó, đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa các cấp, các ngành, gắn kết chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn, giữa truyền thống và công nghệ hiện đại. Triển khai hiệu quả các giải pháp trên sẽ góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong thời gian tới, củng cố niềm tin xã hội, giữ vững an ninh quốc gia và tạo môi trường thuận lợi để Việt Nam phát triển nhanh, bền vững, khẳng định vị thế, uy tín trong kỷ nguyên số.
PGS.TS Cao Văn Trọng[1]
Tài liệu tham
- C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, 2002, tr. 774
- C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 46, phần II, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, 2001, tr.60-61
- V.I.Lênin, Toàn tập, tập 30, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2006, tr.684
- Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 14, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.97.
- Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.371
- [1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.94- 95
- Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016, tr.119-120
- Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr.115
- Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, ngày 22/12/2024, tr.1-2
- https://www.qdnd.vn/giao-duc-khoa-hoc/tin-tuc/viet-nam-duy-tri-xep-hang-44-ve-chi-so-doi-moi-sang-tao-toan-cau-2025-846440
- https://nhandan.vn/phat-trien-ben-vung-doanh-nghiep-khoi-nghiep-sang-tao-post847140.html
- https://tcnn.vn/news/detail/66288/100-Bo-nganh-dia-phuong-da-hoan-thanh-ket-noi-dong-bo-du-lieu-voi-Co-so-du-lieu-quoc-gia-ve-can-bo-cong-chuc-vien-chuc.html
- https://ven.congthuong.vn/ict-industry-sees-strong-growth-in-2024-55806.html?utm_source
- https://english.mst.gov.vn/vietnam-maintains-its-place-among-top-10-best-countries-for-software-outsourcing-197153678.htm?utm_source
[1] Thư ký khoa học Hội đồng Lý luận Trung ương
[2] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 46, phần II, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, 2001, tr.372.
[3] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, 2002, tr. 774
[4] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, 2002, tr.762
[5] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 46, phần II, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, 2001, tr.60-61
[6] V.I.Lênin, Toàn tập, tập 30, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2006, tr.684
[7] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 14, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.97.
[8] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.371
[9] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.94–95
[10] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016, tr.119–120
[11] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr.115
[12] Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, ngày 22/12/2024, tr.1-2
[13] https://www.qdnd.vn/giao-duc-khoa-hoc/tin-tuc/viet-nam-duy-tri-xep-hang-44-ve-chi-so-doi-moi-sang-tao-toan-cau-2025-846440
[14] https://nhandan.vn/phat-trien-ben-vung-doanh-nghiep-khoi-nghiep-sang-tao-post847140.html
[15] https://ven.congthuong.vn/ict-industry-sees-strong-growth-in-2024-55806.html?utm_source
[16] https://english.mst.gov.vn/vietnam-maintains-its-place-among-top-10-best-countries-for-software-outsourcing-197153678.htm?utm_source
[17] https://tcnn.vn/news/detail/66288/100-Bo-nganh-dia-phuong-da-hoan-thanh-ket-noi-dong-bo-du-lieu-voi-Co-so-du-lieu-quoc-gia-ve-can-bo-cong-chuc-vien-chuc.html