Chủ Nhật, ngày 04 tháng 12 năm 2022

Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội

Ngày phát hành: 25/11/2022 Lượt xem 698


 

1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về tính tất yếu của chủ nghĩa xã hội trong tiến trình phát triển của nhân loại

 

1.1. Cơ sở khoa học về tính tất yếu của chủ nghĩa xã hội

Theo Ph.Ăng-ghen, C.Mác có hai phát hiện vĩ đại là “quan niệm duy vật về lịch sử và việc dùng giá trị thặng dư để bóc trần bí mật của sản xuất tư bản chủ nghĩa”[1], nhờ đó “chủ nghĩa xã hội đã trở thành một khoa học mà ngày nay, vấn đề trước hết là phải nghiên cứu thêm, trong mọi chi tiết và mọi mối liên hệ của nó”[2]. Dựa trên cơ sở “luận điểm cho rằng sản xuất và trao đổi sản phẩm của sản xuất tiến hành sau sản xuất, là cơ sở của mọi chế độ xã hội”[3], C.Mác và Ph.Ăng-ghen đã luận giải rõ tính tất yếu không những của sự ra đời của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa trong mối liên hệ lịch sử của nó, tính tất yếu của nó đối với một thời kỳ lịch sử nhất định, mà cả tính tất yếu của sự tiêu vong của chủ nghĩa tư bản[4].

 

Theo C.Mác và Ph.Ăng-ghen, “Chủ nghĩa cộng sản nảy sinh ra từ nền đại công nghiệp và những hậu quả của đại công nghiệp: từ sự xuất hiện thị trường thế giới và cuộc cạnh tranh không thể kìm hãm được do sự xuất hiện của thị trường thế giới gây ra; từ những cuộc khủng hoảng thương nghiệp ngày càng có tính chất phá hoại và tính phổ biến và giờ đây đã hoàn toàn trở thành những cuộc khủng hoảng của thị trường thế giới; từ sự hình thành ra giai cấp vô sản và sự tích tụ của tư bản; và từ cuộc đấu tranh giai cấp giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản do đó mà nảy sinh ra. Chủ nghĩa cộng sản, ở mức độ nó là lý luận, là sự biểu hiện lý luận của lập trường của giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh đó và sự khái quát lý luận về những điều kiện giải phóng của giai cấp vô sản”[5]. Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản dẫn tới “tư liệu sản xuất và sản xuất, về thực chất, đã biến thành có tính chất xã hội; nhưng chúng vẫn phải lệ thuộc vào một hình thức chiếm hữu lấy sản xuất riêng rẽ của người sản xuất cá thể làm tiền đề, hình thức trong đó mỗi người đều là chủ nhân của sản phẩm của mình và đem những sản phẩm ấy bán ra thị trường. Phương thức sản xuất phải lệ thuộc vào hình thức chiếm hữu ấy, tuy nó đã phá hủy tiền đề của hình thức chiếm hữu ấy. Cái mâu thuẫn ấy, cái mâu thuẫn đã mang lại tính chất tư bản chủ nghĩa cho phương thức sản xuất mới, đã chứa đựng sẵn những mầm mống của mọi xung đột hiện nay”[6]. “Mâu thuẫn giữa sự sản xuất xã hội và sự chiếm hữu tư bản chủ nghĩa biểu hiện ra thành sự đối lập giữa tình trạng có tổ chức của sản xuất trong mỗi công xưởng riêng biệt với tình trạng vô chính phủ của sản xuất trong toàn thể xã hội”[7]. “Nếu các cuộc khủng hoảng đã vạch rõ sự bất lực của giai cấp tư sản trong việc tiếp tục quản lý những lực lượng sản xuất hiện đại thì việc chuyển các cơ cấu sản xuất và giao thông đại quy mô thành các công ty cổ phần, các tờ-rớt và thành tài sản quốc gia lại càng chứng tỏ rằng người ta chẳng cần đến giai cấp tư sản mới đạt được mục đích ấy. Hết thảy chức năng xã hội của những nhà tư bản hiện nay đều do những nhân viên làm công đảm nhiệm… Nhưng dù những lực lượng sản xuất là ở trong tay các công ty cổ phần và các tờ-rớt hay biến thành tài sản nhà nước thì những tư liệu sản xuất cũng vẫn không mất tính chất của chúng là tư bản” [8]. “Sở hữu nhà nước về lực lượng sản xuất không phải là cách giải quyết xung đột nhưng đã là cái cách giải quyết về mặt hình thức, tức là khả năng để giải quyết xung đột ấy. Cách giải quyết này chỉ có thể là ở chỗ tính chất xã hội của lực lượng sản xuất hiện đại phải được thừa nhận trên thực tế và do đó, phương thức sản xuất, chiếm hữu và trao đổi phải được làm cho thích hợp với tính chất xã hội của các tư liệu sản xuất. Và chỉ có thể làm được như vậy nếu xã hội công khai và trực tiếp nắm lấy những lực lượng sản xuất đã phát triển đến nỗi ngoài xã hội ra, không ai có thể quản lý được chúng”[9].

 

 Như vậy, “sự tập trung tư liệu sản xuất và xã hội hóa lao động đạt đến cái điểm mà chúng không còn thích hợp với cái vỏ tư bản chủ nghĩa của chúng nữa. Cái vỏ đó vỡ tung ra. Giờ tận số của chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa đã điểm. Những kẻ đi tước đoạt bị tước đoạt”[10]. “Mâu thuẫn giữa sự sản xuất xã hội và sự chiếm hữu tư bản chủ nghĩa biểu hiện thành sự đối kháng giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản”[11] và chỉ có thể giải quyết thông qua cách mạng vô sản chủ với sự hình thành của chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản: “giai cấp vô sản đoạt quyền lực xã hội và nhờ quyền lực ấy, biến những tư liệu sản xuất xã hội đã thoát khỏi tay giai cấp tư sản, thành sở hữu của toàn xã hội. Bằng hành vi ấy, giai cấp vô sản làm cho những tư liệu sản xuất thoát khỏi tính chất là tư bản trước kia của chúng, làm cho tính chất xã hội của tư liệu sản xuất được hoàn toàn tự do phát triển. Như vậy, sự sản xuất xã hội theo một kế hoạch đã định trước trở thành có khả năng thực hiện được. Sự phát triển sản xuất làm cho sự tồn tại của các giai cấp xã hội khác nhau không còn hợp thời nữa. Tình trạng vô chính phủ trong nền sản xuất xã hội càng biến mất đi bao nhiêu thì uy quyền chính trị của nhà nước cũng càng biến mất đi bấy nhiêu. Con người, cuối cùng làm chủ tồn tại xã hội của chính mình thì cũng do đó mà làm chủ tự nhiên, làm chủ cả bản thân mình, trở thành người tự do”[12].

 

1.2. Đặc trưng của chủ nghĩa xã hội

 

Theo C.Mác và Ph.Ăng-ghen, chủ nghĩa cộng sản với tư cách là chế độ xã hội mới, tiến bộ hơn chủ nghĩa tư bản phải là “một liên hợp, trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”[13]. Cụ thể hóa quan điểm đó Ph.Ăng-ghen cho rằng, trong chế độ xã hội đó, “Trước hết, việc quản lý công nghiệp và tất cả các ngành sản xuất nói chung sẽ không còn nằm trong tay của cá nhân riêng lẻ cạnh tranh với nhau nữa. Trái lại, tất cả các ngành sản xuất sẽ do toàn thể xã hội quản lý, tức là sẽ được tiến hành vì lợi ích chung, theo một kế hoạch chung và với sự tham gia của tất cả mọi thành viên trong xã hội... Do đó, chế độ tư hữu cũng phải được thủ tiêu và phải được thay bằng việc sử dụng chung tất cả mọi công cụ sản xuất và việc phân phối sản phẩm theo sự thỏa thuận chung, tức là bằng cái mà người ta gọi là sự cộng đồng về tài sản. Thủ tiêu chế độ tư hữu là một cách nói vắn tắt nhất và tổng quát nhất về việc cải tạo toàn bộ chế độ xã hội; việc cải tạo này là kết quả tất yếu của sự phát triển của công nghiệp. Cho nên, những người cộng sản hoàn toàn đúng khi đề ra việc thủ tiêu chế độ tư hữu thành yêu cầu chủ yếu của mình”[14]. Như vậy, chủ nghĩa cộng sản là “một xã hội tổ chức theo nguyên tắc của chủ nghĩa tập thể, dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất”[15]

Xã hội cộng sản chủ nghĩa được hình thành và phát triển qua hai giai đoạn. Giai đoạn thấp được V.I.Lênin gọi là chủ nghĩa xã hội “không phải là một xã hội cộng sản chủ nghĩa đã phát triển trên những cơ sở của chính nó, mà trái lại là một xã hội cộng sản chủ nghĩa vừa thoát thai từ xã hội tư bản chủ nghĩa, do đó là một xã hội, về mọi phương diện - kinh tế, đạo đức, tinh thần - còn mang những dấu vết của xã hội cũ mà nó đã lọt lòng ra”[16]. Do đó, ngoài đặc trưng là chế độ công hữu về các điều kiện chủ yếu của sản xuất và lao động tập thể đang trong quá trình xác lập trên thực tế, thì “ngự trị ở đây, cũng vẫn là cái nguyên tắc đã điều tiết sự trao đổi hàng hóa trong chừng mực đó là một sự trao đổi những giá trị ngang nhau. Nhưng nội dung và hình thức có đổi khác, vì trong những điều kiện đã thay đổi thì không một ai có thể cung cấp một cái gì khác ngoài lao động của mình và mặt khác, vì ngoài những vật phẩm tiêu dùng cá nhân ra thì không còn cái gì khác có thể trở thành sở hữu của cá nhân được”[17]. C.Mác cho rằng: “đó là những thiếu sót không thể tránh khỏi trong giai đoạn đầu của xã hội cộng sản chủ nghĩa, lúc nó vừa mới lọt lòng từ xã hội tư bản chủ nghĩa ra, sau những cơn đau đẻ dài. Quyền không bao giờ có thể ở một mức cao hơn chế độ kinh tế và sự phát triển văn hóa của xã hội do chế độ kinh tế đó quyết định. Trong một giai đoạn cao hơn của xã hội cộng sản chủ nghĩa, khi mà sự phụ thuộc có tính chất nô dịch của con người vào sự phân công lao động của họ không còn nữa và cùng với nó, sự đối lập giữa lao động trí óc với lao động chân tay cũng không còn nữa; khi mà lao động trở thành không những là một phương tiện để sinh sống mà bản thân nó còn là một nhu cầu bậc nhất của đời sống; khi mà cùng với sự phát triển toàn diện của các cá nhân, sức sản xuất của họ cũng ngày càng tăng lên và tất cả các nguồn của cải xã hội đều tuôn ra dồi dào, - chỉ khi đó người ta mới có thể vượt hẳn ra khỏi giới hạn chật hẹp của pháp quyền tư sản và xã hội mới có thể ghi trên lá cờ của mình: làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”[18].

 

Kế thừa và bổ sung phát triển quan điểm của C.Mác và Ph.Ăng-ghen, V.I.Lênin cho rằng: “Chủ nghĩa xã hội là sản phẩm của nền đại công nghiệp cơ khí. Và nếu quần chúng lao động đang xây dựng chủ nghĩa xã hội mà không biết đem ứng dụng những cơ quan của mình cho phù hợp với những phương thức hoạt động của đại công nghiệp cơ khí, thì không thể nói đến việc thiết lập chủ nghĩa xã hội được”[19].

 

Từ thực tiễn phát triển của chủ nghĩa tư bản hiện đại và quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga, V.I.Lênin nhấn mạnh: “Chủ nghĩa cộng sản là Chính quyền xô‐viết cộng với điện khí hóa toàn quốc, vì không có điện khí hóa thì không thể đẩy công nghiệp lên được”[20]. t42, tr.36 “Dùng cả hai tay mà lấy những cái tốt của nước ngoài: Chính quyền xô‐viết + trật tự ở đường sắt Phổ + kỹ thuật và cách tổ chức các tơ‐rớt ở Mỹ + ngành giáo dục quốc dân Mỹ etc. etc. + + = S1) = chủ nghĩa xã hội”[21].

 

Phân biệt chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa xã hội V.I.Lênin cho rằng: “chủ nghĩa xã hội là một xã hội trực tiếp phát sinh ra từ chủ nghĩa tư bản, là hình thức đầu tiên của xã hội mới, còn chủ nghĩa cộng sản là hình thức xã hội cao hơn và chỉ có thể phát triển được sau khi chủ nghĩa xã hội đã hoàn toàn được củng cố. Chủ nghĩa xã hội có nghĩa là làm việc không có sự giúp đỡ của nhà tư bản, là lao động xã hội dưới sự kiểm kê, kiểm soát và giám sát nghiêm ngặt nhất của đội tiên phong có tổ chức, tức bộ phận tiên tiến của những người lao động; đồng thời phải quy định cả mức độ lao động lẫn sự thù lao cho lao động. Sở dĩ cần phải quy định như vậy, là vì xã hội tư bản chủ nghĩa đã để lại cho chúng ta những tàn tích và tập quán, như lao động riêng lẻ, không tin vào nền kinh tế tập thể, thói quen cũ của người tiểu chủ, hết thảy những cái đó đều chiếm địa vị thống trị trong tất cả các nước nông dân. Tất cả những cái đó đều trái với nền kinh tế cộng sản chủ nghĩa chân chính. Chủ nghĩa cộng sản mà chúng ta nói đây, là chế độ trong đó mọi người đều có thói quen thực hiện nghĩa vụ xã hội mà không cần đến những cơ quan cưỡng bức đặc biệt; và lao động không lấy thù lao để phục vụ lợi ích chung trở thành hiện tượng phổ biến. Rõ ràng là đối với những người mới bước vài bước đầu để chiến thắng hoàn toàn chủ nghĩa tư bản, thì khái niệm ʺchủ nghĩa cộng sảnʺ là quá xa xôi”[22].

Trong chủ nghĩa xã hội, hay là giai đoạn đầu của xã hội cộng sản chủ nghĩa, chủ nghĩa cộng sản chưa thể hoàn toàn trưởng thành về mặt kinh tế, chưa thể hoàn toàn thoát khỏi những tập tục hay những tàn tích của chủ nghĩa tư bản, do đó, trình độ phát triển kinh tế mới chỉ tạo ra khả năng thực hiện nguyên tắc: ʺLàm hết năng lực, hưởng theo lao độngʺ, vì vậy dưới chủ nghĩa xã hội, điều chủ yếu là phải kiểm kê và kiểm soát mức lao động và mức tiêu dùng. Người điều hòa việc phân phối lao động và phân phối sản phẩm giữa các thành viên xã hội dưới chủ nghĩa xã hội là nhà nước[23]

 

2. Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội

 

2.1. Quan điểm của C.Mác và Ph.Ăng-ghen

 

Vì sự phát triển của chủ nghĩa tư bản thời C.Mác và Ph.Ăng-ghen dựa trên nền đại công nghiệp hoạt động theo cơ chế thị trường tự do cạnh tranh, do đó khi trả lời câu hỏi: Cuộc cách mạng đó có thể xảy ra trong riêng một nước nào đó không? Ban đầu Ph.Ăng-ghen cho rằng điều đó là không thể. Nguyên nhân là: “Đại công nghiệp do đã tạo nên thị trường thế giới nên đã nối liền tất cả các dân tộc trên trái đất lại với nhau, nhất là các dân tộc văn minh, khiến cho mỗi một dân tộc đều phụ thuộc vào tình hình xảy ra ở dân tộc khác. Sau nữa, đại công nghiệp đã san bằng sự phát triển xã hội ở trong tất cả các nước văn minh, khiến cho ở khắp nơi, giai cấp tư sản và giai cấp vô sản đã trở thành hai giai cấp có tác dụng quyết định trong xã hội và cuộc đấu tranh giữa hai giai cấp đó đã trở thành cuộc đấu tranh chủ yếu của thời đại chúng ta. Vì vậy, cuộc cách mạng cộng sản chủ nghĩa không những sẽ có tính chất dân tộc mà sẽ đồng thời xảy ra ở trong tất cả các nước văn minh, tức là ít nhất, ở Anh, Mỹ, Pháp và Đức. Trong mỗi một nước đó, cách mạng cộng sản chủ nghĩa sẽ phát triển nhanh hay chậm, là tùy ở chỗ nước nào trong những nước đó có công nghiệp phát triển hơn, tích lũy được nhiều của cải hơn và có nhiều lực lượng sản xuất hơn. Cho nên ở Đức, cách mạng cộng sản chủ nghĩa sẽ thực hiện chậm hơn và khó khăn hơn, còn ở Anh thì nhanh hơn và dễ dàng hơn. Cách mạng cộng sản chủ nghĩa cũng có ảnh hưởng rất lớn đến các nước khác trên thế giới, nó sẽ làm thay đổi hoàn toàn và thúc đẩy cực kỳ nhanh chóng tiến trình phát triển trước kia của các nước đó. Nó là một cuộc cách mạng có tính chất toàn thế giới và vì vậy nó sẽ có một vũ đài toàn thế giới”[24].

 

Tuy nhiên, sau khi bổ sung nghiên cứu thực tiễn phát triển của nước Nga trong thế kỷ XIX, C.Mác và Ph.Ăng-ghen đã có điều chỉnh quan điểm về khả năng thắng lợi chủ cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước phát triển tầm trung bình và thấp: “Nếu như nước Nga tiếp tục đi theo con đường mà nó đã đi từ năm 1861, nó sẽ bỏ lỡ cơ hội thuận lợi nhất mà lịch sử chưa bao giờ đem lại cho một dân tộc, và sẽ phải trải qua mọi nỗi bất hạnh tai hại của chế độ tư bản chủ nghĩa”[25], từ đó, “nếu cách mạng Nga là tín hiệu của cuộc cách mạng vô sản ở phương Tây và nếu cả hai cuộc cách mạng ấy bổ sung cho nhau thì chế độ sở hữu công xã về ruộng đất ở Nga hiện nay có thể là điểm xuất phát của một sự tiến triển cộng sản chủ nghĩa”[26].

 

C.Mác và Ph.Ăng-ghen khẳng định: “không những có thể mà còn chắc chắn là sau thắng lợi của giai cấp vô sản và sau việc xã hội hóa những tư liệu sản xuất ở các dân tộc Tây Âu thì những nước vừa mới bước vào con đường sản xuất tư bản chủ nghĩa và vẫn còn có các chế độ thị tộc nguyên vẹn hoặc những tàn dư của chế độ thị tộc, có thể sử dụng những tàn dư đó của sở hữu chung và những tập quán nhân dân tương ứng làm công cụ mạnh mẽ để rút ngắn một cách đáng kể quá trình phát triển của mình lên xã hội xã hội chủ nghĩa và có thể tránh được phần lớn những đau khổ và những cuộc đấu tranh mà ở Tây Âu chúng ta phải trải qua. Nhưng một điều kiện tất yếu để làm được việc đó là tấm gương và sự ủng hộ tích cực của phương Tây cho tới nay vẫn còn là tư bản chủ nghĩa. Chỉ khi nào nền kinh tế tư bản chủ nghĩa đã bị đánh bại tại quê hương của nó và ở những nước nó đã phát đạt, chỉ khi nào những nước lạc hậu qua tấm gương ấy mà biết được rằng "việc đó đã được tiến hành như thế nào", những lực lượng sản xuất công nghiệp hiện đại, với tư cách là sở hữu công cộng, đã được sử dụng như thế nào để phục vụ toàn thể xã hội, - thì những nước lạc hậu ấy mới có thể bước vào con đường phát triển rút ngắn như vậy. Như thế thắng lợi của những nước ấy sẽ được đảm bảo. Và điều đó không chỉ đúng với nước Nga,  mà với tất cả các nước đang ở trong giai đoạn phát triển tiền tư bản chủ nghĩa. Song ở nước Nga, điều đó sẽ là dễ hơn vì ở đấy một bộ phận dân cư của nó tiếp thu được những kết quả tinh thần của sự phát triển tư bản chủ nghĩa”[27].

 

Như vậy, tính tất yếu của chủ nghĩa xã hội dựa trên cơ sở hoàn toàn khách quan, bắt nguồn từ sự phát triển của lực lượng sản xuất trong chủ nghĩa tư bản. Đồng thời, theo sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, khả năng đi lên chủ nghĩa xã hội đã có sự thay đổi: cách mạng vô sản có khả năng thắng lợi không những ở các nước phát triển hàng đầu của chủ nghĩa tư bản mà cả ở các nước kém phát triển hơn. Một khi cách mạng xã hội chủ nghĩa đã thắng lợi ở một bộ phận của thế giới thì cũng hình thành khả năng đi lên chủ nghĩa xã hội từ các dân tộc kém phát triển hơn. Tuy nhiên, “Giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa là một thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia. Thích ứng với thời kỳ ấy là một thời kỳ quá độ chính trị, và nhà nước của thời kỳ ấy không thể là cái gì khác hơn là nền chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản”[28]. Vì sự phát triển của chủ nghĩa tư bản “ngày càng đẩy tới chỗ biến những tư liệu sản xuất lớn đã xã hội hóa thành sở hữu nhà nước, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa tự nó lại vạch ra con đường để hoàn thành cuộc cách mạng ấy”, cho nên trong cách mạng vô sản và thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa cộng sản, “giai cấp vô sản chiếm lấy chính quyền nhà nước và biến tư liệu sản xuất trước hết thành sở hữu nhà nước”[29]

 

2.2. Quan điểm của V.I.Lênin

 

Kiện định chủ nghĩa Mác, V.I.Lênin cho rằng, lý luận của C.Mác “là lý luận lần đầu tiên đã biến chủ nghĩa xã hội từ không tưởng thành khoa học; lý luận đó đã dựng lên những cơ sở vững chắc cho khoa học ấy và vạch rõ con đường mà chúng ta cần phải theo, để phát triển khoa học đó thêm nữa và phát huy nó với đầy đủ chi tiết… Lý luận đó chỉ rõ toàn bộ sự phát triển của chủ nghĩa tư bản có xu hướng làm cho sản xuất lớn gạt bỏ sản xuất nhỏ như thế nào và đã tạo ra như thế nào những điều kiện khiến có thể và cần phải tổ chức xã hội theo phương thức xã hội chủ nghĩa”[30]. Tuy nhiên V.I.Lênin khẳng định: “Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống. Chúng tôi nghĩ rằng những người xã hội chủ nghĩa ở Nga đặc biệt cần phải tự mình phát triển hơn nữa lý luận của Mác, vì lý luận này chỉ đề ra những nguyên lý chỉ đạo chung, còn việc áp dụng những nguyên lý ấy thì, xét riêng từng nơi, ở Anh không giống ở Pháp, ở Pháp không giống ở Đức, ở Đức”[31].

 

Phát triển quan điểm của C.Mác và Ph.Ăng-ghen về sự phát triển của chủ nghĩa tư bản từ cuối thế kỷ XIX dưới hình thái chủ nghĩa đế quốc, V.I.Lênin cho rằng: “phải coi chủ nghĩa đế quốc là chủ nghĩa tư bản quá độ, hay nói cho đúng hơn, chủ nghĩa tư bản đang hấp hối”[32]; “Chủ nghĩa đế quốc là đêm trước của cuộc cách mạng xã hội của giai cấp vô sản. Điều này đã được xác nhận từ năm 1917, trên quy mô toàn thế giới”[33].

 

Từ phân tích bản chất và sự phát triển của chủ nghĩa đế quốc trên nền tảng của chủ nghĩa Mác, V.I.Lênin cũng chỉ ra rằng, sự phát triển của hình thức mới của quan hệ sản xuất TBCN dưới hình thái CNTB độc quyền nhà nước vừa đẩy nhanh sự phát triển của CNTB nói chung, lại vừa làm cho sự phát triển ấy ngày càng trở nên không đều trên phạm vi toàn thế giới. Ông khẳng định: “Sự phát triển không đồng đều về kinh tế và chính trị là quy luật tuyệt đối của chủ nghĩa tư bản. Do đó, chúng ta thấy rằng chủ nghĩa xã hội có thể thắng trước hết là trong một số ít nước tư bản chủ nghĩa hoặc thậm chí chỉ trong một nước tư bản chủ nghĩa, tách riêng ra mà nói. Giai cấp vô sản chiến thắng của nước đó, sau khi đã tước đoạt bọn tư bản và đã tổ chức nền sản xuất xã hội chủ nghĩa trong nước mình, sẽ đứng lên chống lại cái phần thế giới tư bản chủ nghĩa còn lại, lôi cuốn những giai cấp bị áp bức ở các nước khác theo mình, thúc đẩy họ nổi dậy chống bọn tư bản, sử dụng khi cần, ngay cả lực lượng quân sự, để chống lại các giai cấp bóc lột và nhà nước của chúng”[34].

 

Trong điều kiện chủ nghĩa tư bản đã chuyển hóa thành chủ nghĩa đế quốc, phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa, theo V.I.Lênin, đã trở thành bộ phận của phong trào cộng sản. Do đó, “người ta chống mặt trận đã được sắp xếp thống nhất của các cường quốc đế quốc chủ nghĩa, của giai cấp tư sản đế quốc chủ nghĩa, của những người đế quốc ‐ xã hội, và ủng hộ việc lợi dụng tất cả các phong trào dân tộc chống chủ nghĩa đế quốc, nhằm làm lợi cho cách mạng xã hội chủ nghĩa. Ngày nay, cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống mặt trận chung của chủ nghĩa đế quốc càng thuần túy thì dĩ nhiên là nguyên tắc quốc tế chủ nghĩa: ʺmột dân tộc mà đi áp bức các dân tộc khác thì không thể có tự doʺ, lại càng quan trọng thêm”[35].

 

Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga năm 1917 đã mở ra thời đại mới, cơ hội cho các nước thuộc địa kém phát triển có thể đi lên chủ nghĩa xã hội.  V.I.Lênin đã nêu ra vấn đề và trả lời: “đối với các dân tộc lạc hậu hiện nay đang trên con đường giải phóng và sau chiến tranh đã có một bước tiến bộ, mà khẳng định rằng nền kinh tế quốc dân của những dân tộc đó nhất định phải trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, chúng ta có cho như vậy là đúng hay không? Chúng tôi cho rằng không đúng. Nếu giai cấp vô sản cách mạng chiến thắng tiến hành tuyên truyền một cách có hệ thống trong các dân tộc đó và các chính phủ xô‐viết giúp đỡ họ bằng mọi cách, mà trong lúc đó còn cho rằng giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa là không thể tránh được đối với các dân tộc lạc hậu, thì không đúng. Trong tất cả các nước thuộc địa và các nước lạc hậu, không những chúng ta phải đào tạo những cán bộ độc lập, xây dựng nên những tổ chức đảng, không những phải tiến hành tuyên truyền ngay từ giờ cho việc tổ chức các Xô‐viết nông dân và cố gắng làm cho các Xô‐viết đó phù hợp với những hoàn cảnh tiền tư bản chủ nghĩa, mà Quốc tế cộng sản còn phải xác định và chứng minh trên lý luận cho một nguyên tắc là: với sự giúp đỡ của giai cấp vô sản các nước tiên tiến, các nước lạc hậu có thể tiến tới chế độ xô‐viết, và qua những giai đoạn phát triển nhất định, tiến tới chủ nghĩa cộng sản, không phải trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”[36]. Theo V.I.Lênin, “Không thể chối cãi được rằng giai cấp vô sản của những nước tiên tiến có thể và phải giúp đỡ quần chúng lao động ở những nước lạc hậu, và khi giai cấp vô sản chiến thắng của các nước cộng hòa xô‐viết chìa tay cho những quần chúng đó và có khả năng ủng hộ họ thì các nước lạc hậu đó có thể ra khỏi giai đoạn phát triển hiện nay của họ”[37]

 

Để thực hiện thành công cách mạng xã hội chủ nghĩa cần phải nắm chắc thời cơ cách mạng. V.I.Lênin đã chỉ ra ra ba dấu hiệu chính của một tình thế cách mạng: là những gì? Chúng tôi tin chắc rằng chúng tôi không lầm nếu chúng tôi chỉ dưới “1) Các giai cấp thống trị không thể nào duy trì được nền thống trị của mình dưới một hình thức bất di bất dịch; sự khủng hoảng nào đó của “tầng lớp trên”, tức là khủng hoảng chính trị của giai cấp thống trị, nó tạo ra một chỗ hở mở đường cho nỗi bất bình và lòng phẫn nộ của các giai cấp bị áp bức. Muốn cho cách mạng nổ ra, mà chỉ có tình trạng “tầng lớp dưới không muốn” sống như trước, thì thường thường là không đủ, mà còn cần phải có tình trạng “tầng lớp trên cũng không thể nào” sống như cũ được nữa. 2) Nỗi cùng khổ và quẫn bách của các giai cấp bị áp bức trở nên nặng nề hơn mức bình thường. 3) Do những nguyên nhân nói trên, tính tích cực của quần chúng được nâng cao rõ rệt, những quần chúng này trong thời kỳ “hòa bình” phải nhẫn nhục chịu để cho người ta cướp bóc, nhưng đến thời kỳ bão táp thì họ bị toàn bộ cuộc khủng hoảng cũng như bị ngay cả bản thân “tầng lớp trên” đẩy đến chỗ phải có một hành động lịch sử độc lập”[38].

Kiên định, bổ sung phát triển chủ nghĩa Mác, V.I.Lênin nhấn mạnh: “Từ chủ nghĩa đế quốc ngày nay chuyển sang cách mạng xã hội chủ nghĩa ngày mai, nhân loại cũng sẽ trải qua những con đường có muôn màu muôn vẻ như thế. Tất cả các dân tộc đều sẽ đi đến chủ nghĩa xã hội, đó là điều không tránh khỏi, nhưng tất cả các dân tộc đều tiến tới chủ nghĩa xã hội không phải một cách hoàn toàn giống nhau; mỗi dân tộc sẽ đưa đặc điểm của mình vào hình thức này hay hình thức khác của chế độ dân chủ, vào loại này hay loại khác của chuyên chính vô sản, vào nhịp độ này hay nhịp độ khác của việc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các mặt khác nhau của đời sống xã hội”[39].

 

Vận dụng vào xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga sau Cách mạng tháng Mươi năm 1917, đặc biệt trong thực hiện chính sách kinh tế mới, từ nhận thức đúng đắn tính chất quá độ lên chủ nghĩa xã hội của nền kinh tế, V.I.Lênin nhấn mạnh: “danh từ “nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa xô-viết” có nghĩa là Chính quyền xô-viết quyết tâm thực hiện bước chuyển lên chủ nghĩa xã hội, chứ hoàn toàn không có nghĩa là đã thừa nhận chế độ kinh tế hiện nay là chế độ xã hội chủ nghĩa”[40]. Để vận dụng hiệu quả học thuyết giá trị thặng dư vào xây dựng chủ nghĩa xã hội phải thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần[41], trong đó, thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa với tư cách là cơ sở quyết định cho chế độ mới trước hết cần phải tập trung phát triển đại công nghiệp với “trình độ kỹ thuật hiện đại và có khả năng cải tạo nông nghiệp”[42]. Để củng cố và phát triển các cơ sở sản xuất quốc doanh trong chính sách kinh tế mới cần áp dụng chế độ hạch toán kinh tế[43].

Việc thừa nhận phải áp dụng chế độ hạch toán kinh tế là phát triển nhận thức của V.I.Lênin về sự cần thiết phải áp dụng các điều kiện của sản xuất, phân phối giá trị thặng dư vào ngay trong hoạt động kinh tế của các chủ thể chủ yếu của xã hội mới[44], cùng với đó, cần phải không ngừng hoàn thiện công tác quản lý sản xuất, áp dụng chế độ thủ trưởng, lựa chọn những nhà quản lý có tài nhất và có kinh nghiệm nhất[45]; giải quyết tốt mối quan hệ giữa các đơn vị sản xuất và các cơ quan quản lý[46],  học hỏi kinh nghiệm quản lý của giai cấp tư sản, đặc biệt là phương pháp Tay-lo[47], không ngừng nâng cao chất lượng nhân lực, đặc biệt là chất lượng đội ngũ lãnh đạo[48].

 

Tuy nhiên, trong điều kiện thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa còn non yếu, các thành phần kinh tế sản xuất hàng hóa nhỏ chiếm ưu thế và hoạt động tự phát, V.I.Lênin khẳng định việc sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng[49], bỏi lẽ, “Chủ nghĩa tư bản là xấu so với chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa tư bản là tốt so với thời trung cổ, với nền tiểu sản xuất, với chủ nghĩa quan liêu do tình trạng phân tán của những người tiểu sản xuất tạo nên. Vì chúng ta chưa có điều kiện để chuyển trực tiếp từ nền tiểu sản xuất lên chủ nghĩa xã hội, bởi vậy, trong một mức độ nào đó, chủ nghĩa tư bản là không thể tránh khỏi, nó là sản vật tự nhiên của nền tiểu sản xuất và trao đổi; bởi vậy, chúng ta phải lợi dụng chủ nghĩa tư bản (nhất là bằng cách hướng nó vào con đường chủ nghĩa tư bản nhà nước) làm mắt xích trung gian giữa nền tiểu sản xuất và chủ nghĩa xã hội, làm phương tiện, con đường, phương pháp, phương thức để tăng lực lượng sản xuất lên”[50]. Từ đó, V.I.Lênin nhấn mạnh: “Chúng ta không nên sợ thú nhận rằng ở đây chúng ta có thể và phải học tập nhiều nữa ở bọn tư bản”[51]. Tuy nhiên, việc sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước để xây dựng chủ nghĩa xã hội là có giới hạn[52].

 

Một trong những phát triển sáng tạo của V.I.Lênin trong vận dụng học thuyết giá trị thặng dư vào xây dựng chủ nghĩa xã hội là phải mạnh dạn khôi phục và phát triển quan hệ hàng hóa, tiền tệ, coi trao đổi hàng hóa là đòn xeo chủ yếu của chính sách kinh tế mới nhằm giải quyết quan hệ kinh tế giữa công nghiệp và nông nghiệp, giữa giai cấp vô sản và nông dân và thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển[53]. Để đảm bảo khôi phục và phát huy vai trò của lưu thông hàng hóa, V.I.Lênin cho rằng, phải đánh giá đúng vai trò của vàng[54], phải ổn định đồng rúp[55], không phải chỉ dựa vào lý luận, mà phải đặc biệt coi trọng thực tiễn, thậm chí, đối với nhận thức những điều kiện để ổn định đồng rúp thì “thực tiễn quan trọng hơn tất cả mọi cuộc tranh luận về lý luận ở trên đời”[56].

 

Sử dụng sản xuất hàng hóa và quan hệ hàng hóa - tiền tệ không những giúp là phương thức để giải quyết quan hệ lợi ích giữa các chủ thể kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế khác nhau trong nước mà còn giúp cho phát triển quan hệ kinh tế với nước ngoài, đặc biệt là các nước tư bản phát triển. Cơ sở của quan hệ kinh tế với các nước tư bản phát triển, trước hết về thương mại, là lợi ích kinh tế và những mâu thuẫn lợi ích kinh tế giữa các nước đó. Vì vậy, theo V.I.Lênin, “cho đến khi chủ nghĩa xã hội vĩnh viễn thắng lợi trên toàn thế giới, … phải biết lợi dụng những sự đối lập và những mâu thuẫn giữa bọn đế quốc chủ nghĩa”[57]

 

Tóm lại, các nhà kinh điển Mác – Lênin đã luận giải khoa học về tính tất yếu của chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, chỉ ra tính quy luật chung cần phải kiên định, đồng thời nhấn mạnh tính đặc thù của xây dựng chủ nghĩa xã hội trong từng điều kiện lịch sử cụ thể ở từng quốc gia dân tộc, từ đó tạo cơ sở khoa học cho không ngừng bổ sung, phát triển và vận dụng sáng tạo đối với các thế hệ sau.

PGS.TS Đoàn Xuân Thủy, HĐLLTW



[1] C.Mác và Ph.Ăng-ghen, Toàn tập, Nxb CTQG-ST, H., 1995, t.19, tr.305

[2] C.Mác và Ph.Ăng-ghen, Toàn tập, Nxb CTQG-ST, H., 1995, t.19, tr.305

[3] C.Mác và Ph.Ăng-ghen, Toàn tập, Nxb CTQG-ST, H., 1995, t.19, tr.306

[4] Xem: C.Mác và Ph.Ăng-ghen, Toàn tập, Nxb CTQG-ST, H., 1995, t.19, tr.304

[5] C.Mác và Ph.Ăng-ghen, Toàn tập, Nxb CTQG-ST, H., 1995, t.4, tr.399

[6] C.Mác và Ph.Ăng-ghen, Toàn tập, Nxb CTQG-ST, H., 1995, t.19, tr.311

[7] C.Mác và Ph.Ăng-ghen, Toàn tập, Nxb CTQG-ST, H., 1995, t.19, tr.316

[8] C.Mác và Ph.Ăng-ghen, Toàn tập, Nxb CTQG-ST, H., 1995, t.19, tr.323

[9] C.Mác và Ph.Ăng-ghen, Toàn tập, Nxb CTQG-ST, H., 1995, t.19, tr.234

[10] C.Mác và Ph.Ăng-ghen, Toàn tập, Nxb CTQG-ST, H., 2002, t.23, tr.1059

[11] C.Mác và Ph.Ăng-ghen, Toàn tập, Nxb CTQG-ST, H., 1995, t.19, tr.312

[12] C.Mác và Ph.Ăng-ghen, Toàn tập, Nxb CTQG-ST, H., 1995, t.19, tr.333

[13] C.Mác và Ph.Ăng-ghen, Toàn tập, Nxb CTQG-ST, H., 1995, t.4, tr.628

[14] C.Mác và Ph.Ăng-ghen, Toàn tập, Nxb CTQG-ST, H., 1995, t.4, tr.466-467

[15] C.Mác và Ph.Ăng-ghen, Toàn tập, Nxb CTQG-ST, H., 1995, t.19, tr.33

[16] C.Mác và Ph.Ăng-ghen, Toàn tập, Nxb CTQG-ST, H., 1995, t.19, tr.33

[17] C.Mác và Ph.Ăng-ghen, Toàn tập, Nxb CTQG-ST, H., 1995, t.19, tr.34

[18] C.Mác và Ph.Ăng-ghen, Toàn tập, Nxb CTQG-ST, H., 1995, t.19, tr.35-36

[19] V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2006, Tập 36, tr.193

[20] V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2006, Tập 42, tr.36

[21] V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2006, Tập 36, tr.384

[22] V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2006, Tập 40, tr.39-40

[23] Xem: V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2005, Tập 33, tr.116, 119, 121

[24] C.Mác và Ph.Ăng-ghen, Toàn tập, Nxb CTQG-ST, H., 1995, t.4, tr.472

[25] C.Mác và Ph.Ăng-ghen, Toàn tập, Nxb CTQG-ST, H., 1995, t.22, tr.637

[26] C.Mác và Ph.Ăng-ghen, Toàn tập, Nxb CTQG-ST, H., 1995, t.19, tr.434

[27] C.Mác và Ph.Ăng-ghen, Toàn tập, Nxb CTQG-ST, H., 1995, t.22, tr.632

[28] C.Mác và Ph.Ăng-ghen, Toàn tập, Nxb CTQG-ST, H., 1995, t.19, tr.47

[29] C.Mác và Ph.Ăng-ghen, Toàn tập, Nxb CTQG-ST, H., 1995, t.19, tr.326

[30] V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2005, Tập 4, tr.230-231

[31] V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2005, Tập 4, tr.232

[32] V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2005, Tập 27, tr. 538

[33] V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2005, Tập 27, tr.394

[34] V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2006, Tập 26, tr. 447

[35] V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2006, Tập 30, tr.51

[36] V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2005, Tập 41, tr. 295

[37] V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2005, Tập 41, tr. 294-295

[38] V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2006, Tập26, tr.268

[39] V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2006, Tập 30, tr.60

[40] V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội,, 2005, tập 43, tr.248.

[41] V.I.Lênin, Toàn tập, NxbCTQG, Hà Nội, 2005, tập 43, tr.248.

[42] V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội,, 2006, tập 44, tr.11.

[43] V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2006, tập 44, tr.419

[44] V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2006, tập 44, tr.419

[45] Xem: V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2006, Tập 44, tr.422-423

[46] V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2006, Tập 44, tr.584

[47] V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2006, tập 45, tr.242

[48] V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb CTQG, HN, 2006, tập 45, tr.114

[49] V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb.CTQG, Hà Nội, 2005, tập 43, tr.253-254.

[50] V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb.CTQG, Hà Nội, 2005, tập 43, tr.276.

[51] V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb.CTQG, Hà Nội, 2005, tập 43, tr.280.

[52] V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2005, tập 43, tr.34, 99,144, 191; Tập 43, tr.34, 99, 144, 191, 273

[53] V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb.: CTQG, HN, 2005, Tập 43, tr.400; tâp 45, tr.330

[54] V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb.: CTQG, Hà Nội, 2006, tâp 44, tr. 275-283

[55] Xem: V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb.: CTQG, Hà Nội, 2006, tâp 45, tr.329

[56] V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb.: CTQG, Hà Nội, 2006, tâp 45, tr.330

[57] V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb.: CTQG, Hà Nội, 2006, tâp 42, tr.67

Tin Liên quan

Góp ý về nội dung bài viết