Thứ Sáu, ngày 27 tháng 02 năm 2026

Sự tham gia của người dân trong hoạch định và thực thi chính sách bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu (1)

Ngày phát hành: 27/02/2026 Lượt xem 32


1. Đặt vấn đề

 
Trong những năm qua, Việt Nam nhất quán thực hiện 17 Mục tiêu Phát triển bền vững (SDGs) của Liên hợp quốc gắn với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đột phá về khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia. Dự thảo Văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng khẳng định tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2021–2025 đạt bình quân khoảng 6,3%/năm; quy mô GDP năm 2025 ước trên 510 tỷ USD, đưa Việt Nam vào nhóm quốc gia có thu nhập trung bình cao. Sau gần 40 năm Đổi mới, quy mô nền kinh tế tăng gần 106 lần, thu nhập bình quân đầu người tăng hơn 63 lần .


Tuy nhiên, song hành với tăng trưởng là những thách thức ngày càng nghiêm trọng về môi trường và biến đổi khí hậu (BĐKH). Ô nhiễm không khí, suy giảm tài nguyên, thiên tai cực đoan và rủi ro khí hậu gây thiệt hại lớn về kinh tế – xã hội. Theo Ngân hàng Thế giới, tổn thất do thiên tai và ô nhiễm môi trường có thể tương đương khoảng 5% GDP mỗi năm. Tần suất và cường độ thiên tai gia tăng cho thấy yêu cầu cấp thiết phải nâng cao năng lực thích ứng và hiệu quả quản trị môi trường.


Đảng Cộng sản Việt Nam nhất quán quan điểm phát triển nhanh gắn với bền vững. Nghị quyết số 24-NQ/TW (2013) xác định bảo vệ môi trường vừa là mục tiêu, vừa là nội dung cơ bản của phát triển bền vững. Đại hội XIII và Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV tiếp tục nhấn mạnh hoàn thiện thể chế phát triển gắn với “4 chuyển đổi”, trong đó có chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và chuyển đổi năng lượng. Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách quan trọng như Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, Chiến lược quốc gia về BĐKH đến năm 2050, Chiến lược tăng trưởng xanh và cam kết đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.


Tuy nhiên, các mục tiêu và cam kết quốc gia chỉ có thể trở thành hiện thực khi có sự tham gia thực chất của người dân, doanh nghiệp và các bên liên quan. Quan điểm “lấy người dân làm trung tâm”, thúc đẩy quản trị minh bạch và trách nhiệm giải trình là nền tảng chính trị – pháp lý cho sự tham gia này. Trên thực tế, mức độ tham gia của người dân vào hoạch định và thực thi chính sách bảo vệ môi trường và thích ứng BĐKH còn hạn chế; cơ chế huy động và bảo đảm sự tham gia hiệu quả, đặc biệt ở cấp cơ sở, chưa đồng bộ.

 


Trong bối cảnh quản trị môi trường đòi hỏi cách tiếp cận liên ngành, đa cấp và đa chủ thể, sự tham gia của cộng đồng có ý nghĩa quyết định đối với tính hợp pháp, hiệu quả và bền vững của chính sách. Tuy vậy, tại Việt Nam, các nghiên cứu thực nghiệm về cơ chế tham gia ở cấp địa phương còn phân tán.


Bài viết phân tích mức độ và các hình thức tham gia của người dân tại bốn địa phương gồm Bắc Ninh, Quảng Ninh, Tây Ninh và Thành phố Cần Thơ trong quá trình xây dựng và thực thi chính sách bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu; đồng thời đánh giá vai trò của hệ thống chính trị cơ sở và các thiết chế cộng đồng trong việc thúc đẩy sự tham gia này.


Về phương pháp nghiên cứu, ngoài phân tích tài liệu thứ cấp, nghiên cứu còn sử dụng các kỹ thuật định tính như tọa đàm chuyên đề, thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu với lãnh đạo địa phương, đại diện các tổ chức chính trị – xã hội và người dân. Bên cạnh đó, khảo sát định lượng trực tuyến được triển khai từ tháng 10 đến tháng 12 năm 2025 với 1.636 người dân tại 16 xã, phường, bảo đảm cơ cấu mẫu tương đối cân bằng về giới tính, độ tuổi và địa bàn cư trú.


Kết quả khảo sát cho thấy hơn một nửa số người được hỏi đã chịu tác động tiêu cực từ ô nhiễm môi trường hoặc thiên tai trong vòng 5 năm gần đây. Phát hiện này khẳng định tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu, đồng thời cho thấy sự gắn kết trực tiếp giữa trải nghiệm thực tiễn của người dân với yêu cầu hoàn thiện cơ chế tham gia trong quản trị môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu.


2. Nhận thức và sự quan tâm của người dân về việc tham gia xây dựng, thực thi chính sách bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu


Qua kết quả khảo cho thấy, hơn một nửa số người được hỏi (52,7%) cho rằng địa phương nơi họ sinh sống đang đối mặt với tình trạng ô nhiễm môi trường. Khoảng một nửa (50,2%) nhận định địa phương có nhiều khu công nghiệp và thường xuyên chịu tác động của thiên tai như mưa lớn, bão, lũ lụt. Trong khi đó, tỷ lệ người cho rằng diện tích rừng tự nhiên đang bị thu hẹp thấp hơn, ở mức 42,4%.


Khi xem xét theo từng địa phương, sự khác biệt thể hiện khá rõ. Tại Bắc Ninh, Tây Ninh và Thành phố Cần Thơ, vấn đề được người dân quan tâm nhiều nhất là ô nhiễm môi trường, với tỷ lệ lần lượt là 64,0%, 51,2% và 47,9%. Trong khi đó, tại Quảng Ninh – một tỉnh ven biển có diện tích rừng tương đối lớn – người dân đặc biệt lo ngại về tác động của biến đổi khí hậu như mưa, bão, lũ lụt (63,3%) và tình trạng thu hẹp rừng tự nhiên (67,9%). Các khác biệt này có ý nghĩa thống kê cao, cho thấy nhận thức của người dân phản ánh khá sát đặc điểm môi trường và điều kiện tự nhiên của từng địa phương.



Hình 1: Tình hình môi trường và biến đổi khí hậu tại các tỉnh, thành phố (%) 

Nguồn: Khảo sát của ILPA & RLS (2025)


Đối chiếu với Báo cáo PAPI năm 2023 và 2024 về hiệu quả “quản trị môi trường” cho thấy cả bốn địa phương – Bắc Ninh, Quảng Ninh, Tây Ninh và Thành phố Cần Thơ – đều có điểm đánh giá chất lượng không khí và nước ở mức thấp (dưới 2,5/10 điểm), phản ánh những thách thức đáng kể trong quản lý môi trường.


Cụ thể, Bắc Ninh ghi nhận chất lượng không khí giảm nhẹ, trong khi chất lượng nước chỉ cải thiện rất hạn chế. Tây Ninh và Thành phố Cần Thơ có xu hướng cải thiện về không khí nhưng lại suy giảm về chất lượng nguồn nước. Những diễn biến trái chiều này cho thấy cải thiện ở một lĩnh vực chưa đồng nghĩa với tiến bộ tổng thể, và yêu cầu nâng cao hiệu quả quản trị môi trường ở cấp địa phương vẫn đặt ra cấp thiết.


 

Ghi chú: *Dữ liệu này đã bao gồm của các tỉnh, thành phố khác được sáp nhập vào kể từ sau ngày 01/7/2025.
Nguồn: Tính toán từ dữ liệu PAPI .


Đáng chú ý, khảo sát 1636 người dân tại 4 địa phương cho thấy, trong vòng 5 năm trở lại đây, có 54.3% số hộ gia đình từng chịu tác động trực tiếp của BĐKH, các thảm hoạ môi trường, hiện tượng thời tiết cực đoan hoặc tình trạng ô nhiễm môi trường sống. Trong số đó, 30.6% đánh giá mức độc tác động là “nghiêm trọng” đối với sinh hoạt thường ngày, 46.1% ở mức “không nghiêm trọng” và 23.3% là “không rõ ràng”.


Những phát hiện trên phác họa một bức tranh khái quát về thực trạng môi trường và diễn biến của BĐKH tại các địa bàn khảo sát, đồng thời phản ánh mức độ khác biệt trong trải nghiệm và cảm nhận của người dân trước các rủi ro môi trường. Điều này ảnh hưởng đáng kể đến nhận thức, mức độ quan tâm và động lực tham gia của người dân vào quá trình hoạch định, thực thi chính sách BVMT và thích ứng với BĐKH ở cấp cơ sở.


Tiếp đến, chúng tôi xem xét nhận thức của người dân về vai trò tham gia của họ trong toàn bộ chu trình chính sách BVMT và thích ứng với BĐKH. Kết quả khảo sát tại 4 tỉnh, thành phố cho thấy, 85.2% số người được hỏi bày tỏ sự “đồng ý” với quan điểm cho rằng người dân cần thiết tham gia vào quá trình soạn thảo, ban hành, thực thi các quy định về BVMT và thích ứng với BĐKH. Tỷ lệ người “không đồng ý” chỉ chiếm 4.2%, trong khi 10.6% còn bày tỏ sự “phân vân” với quan điểm này. Kết quả trên phản ảnh mức độ đồng thuận tương đối cao về tính chính đáng và sự cần thiết tham gia của người dân trong chu trình chính sách này. 


Xét theo giới tính, tỷ lệ nam giới đồng thuận với quan điểm “người dân có vai trò quan trọng trong hoạch định và thực thi chính sách bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu” đạt 86,1%, cao hơn nữ giới (84,4%), song mức chênh lệch không đáng kể. Tuy nhiên, tỷ lệ nam giới không đồng ý cao gần gấp đôi nữ giới, cho thấy mức độ phân hóa quan điểm ở nam có phần rõ hơn, trong khi nữ giới thể hiện sự ổn định và nhất quán hơn.


Theo thời gian cư trú, nhóm sống tại địa phương từ 5 năm trở lên có tỷ lệ đồng thuận cao hơn đáng kể so với nhóm cư trú ngắn hạn. Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu trước đây, cho rằng sự gắn bó lâu dài với cộng đồng có mối liên hệ tích cực với ý thức trách nhiệm và sự tham gia vào các vấn đề công.. Fung (2006) , Lewicka (2011) .


Xét theo địa phương, Tây Ninh có tỷ lệ đồng thuận cao nhất (88,7%), tiếp đến là Quảng Ninh (87,0%), Thành phố Cần Thơ (83,2%) và Bắc Ninh (81,9%). Sự khác biệt này có thể không chỉ phản ánh mức độ rủi ro môi trường mà còn liên quan đến đặc điểm quản trị địa phương và mức độ tác động trực tiếp của các vấn đề môi trường, khí hậu đến sinh kế người dân.
Xét theo nghề nghiệp, nhóm cán bộ, công chức, viên chức có tỷ lệ đồng thuận cao nhất (93,1%), vượt xa nhóm làm nông nghiệp (74,2%), kinh doanh (82,2%) và nhân viên văn phòng (85,8%). Điều này cho thấy lợi thế về tiếp cận thông tin và mức độ tham gia vào quá trình quản lý có thể ảnh hưởng đáng kể đến nhận thức và thái độ chính sách.


Các phát hiện này có thể được lý giải từ góc độ quản trị đa cấp và quản trị dựa vào cộng đồng qua các nghiên cứu của Ostrom (2010) , Adger và cộng sự (2013) , phát hiện trên có thể được lý giải phần nào nếu xem xét từ vai trò, mức độ uỷ quyền và phát huy dân chủ trong quản trị lĩnh vực này của chính quyền địa phương. theo đó mức độ phân quyền và phát huy dân chủ ở địa phương ảnh hưởng trực tiếp đến nhận thức và hành vi tham gia của người dân. Bên cạnh đó, tại Tây Ninh và Cần Thơ, dù ít chịu tác động của bão, lũ lớn, nhưng các hiện tượng như xâm nhập mặn, khô hạn, nắng nóng và thiếu nước sinh hoạt diễn ra thường xuyên, tác động trực diện đến sinh kế. Điều này góp phần củng cố nhận thức về tính thiết yếu của hành động cộng đồng và vai trò chủ động của người dân trong bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu.


Nhìn chung cho thấy, người dân tại bốn tỉnh, thành phố khảo sát đã hình thành nhận thức khá rõ về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của mình trong việc cùng tham gia giải quyết các vấn đề môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu. Kết quả phân tích định lượng cho thấy mức độ ủng hộ và sẵn sàng tham gia có sự khác biệt đáng kể giữa các nhóm xã hội, phản ánh sự đa dạng về điều kiện kinh tế – xã hội, trải nghiệm và mức độ chịu tác động của các vấn đề môi trường tại từng địa phương.


Các cuộc phỏng vấn sâu bổ sung thêm chiều cạnh định tính quan trọng, cho thấy người dân không chỉ nhận thức được vai trò của mình mà còn có những suy nghĩ tương đối sâu sắc về nhu cầu và cách thức tham gia ở từng giai đoạn của chu trình chính sách. Nhận thức này, dù chưa hoàn toàn chuyển hóa thành hành động tham gia ở mức độ cao, vẫn là nguồn lực xã hội quan trọng. Đây chính là tiền đề thuận lợi để thúc đẩy các hình thức tham gia thực chất, có chiều sâu hơn trong hoạch định và thực thi chính sách bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu.

 


3. Sư tham gia của người dân trong hoạch định và thực thi chính sách bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu

 
Trên cơ sở các tiếp cận lý thuyết về chính sách công, khung nghiên cứu, căn cứ pháp lý cũng như thực tiễn vấn đề này tại Việt Nam, nhóm nghiên cứu đã xác định 9 tiêu chí phản ánh các khâu/hoạt động cơ bản trong giai đoạn hoạch định và thực thi chính sách BVMT và thích ứng với BĐKH nhằm xem xét mức độ và tần suất tham gia của người dân. Kết quả khảo sát tại 4 tỉnh, thành phố được trình bày ở Hình 4 cho thấy:


Thứ nhất, mức độ tham gia của người dân vào các khâu/công đoạn của quá trình hoạch định, thực thi chính sách BVMT và thích ứng với BĐKH tương đối cao, với  tỷ lệ dao động từ 84.9% đến 97.9%. Tuy nhiên, mức độ tham gia không đồng đều giữa các khâu trong mỗi giai đoạn khác nhau của chu trình chính sách. Điều này phản ánh sự khác biệt rõ rệt về vai trò, cơ hội và hình thức tham gia của người dân ở từng công đoạn:


Đối với giai đoạn hoạch định chính sách, sự tham gia của người dân chủ yếu diễn ra dưới hình thức đóng góp góp ý kiến khi được cơ quan, cá nhân có thẩm quyền ở địa phương mời với tỷ lệ rất cao (96.6%). Trong khi đó, ở mức độ chủ động hiến kế, đề xuất ý tưởng và giải pháp nhằm giải quyết các thách thức môi trường và ứng phó với BĐKH tại nơi cư trú thấp hơn (89.8%). 


Đối với giai đoạn thực thi chính sách, các hình thức tham gia của người dân có tỷ lệ rất cao, tập trung chủ yếu vào những hoạt động mang tính cộng đồng và xã hội hóa. Cụ thể,  tuyên truyền, vận động người thân thực hiện quy định, chính sách có tỷ lệ cao nhất (97.9%); tiếp đến là tham gia cùng cộng đồng, chính quyền khắc phục thiên tai (97.6%). Bên cạnh đó,  hoạt động theo dõi, giám sát việc triển khai chính sách cũng đạt tỷ lệ đáng kể (90.8%), gần  tương đương với mức độ tham gia đóng góp các nguồn và bàn bạc với chính quyền địa phương để tìm giải pháp BVMT (90.5%).  

Các kết quả này cho thấy người dân giữ vai trò tích cực trong các khâu thực thi chính sách, chủ yếu dựa trên tinh thần cộng đồng và sự huy động xã hội. Tuy nhiên, những hoạt động đòi hỏi năng lực chuyên môn cao, nhiều thời gian và tương tác trực tiếp với cơ quan quản lý lại có tỷ lệ tham gia thấp hơn, như phản biện chính sách (84,9%), thành lập mô hình, câu lạc bộ BVMT và thích ứng với BĐKH (85,5%) hoặc chủ động đề xuất giải pháp (89,8%). Điều đó cho thấy sự tham gia vẫn thiên về đồng hành và hỗ trợ “vòng ngoài”, trong khi vai trò đồng kiến tạo và giám sát còn hạn chế. Thực trạng này phản ánh những thách thức trong việc hiện thực hóa phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, giám sát và dân thụ hưởng” trong lĩnh vực bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu.


Kết quả nghiên cứu cũng  phù hợp với nhiều nghiên cứu quốc tế và trong nước, theo đó sự tham gia của người dân ở các quốc gia đang phát triển thường dừng lại ở các nấc thấp và trung bình trong “thang tham gia” của Arnstein (1969), chủ yếu ở mức được cung cấp thông tin, tham vấn hoặc huy động, hơn là đồng quyết định hay giám sát, kiểm tra chính sách.


Hình 2: Sự tham gia của người dân vào hoạch định, thực thi chính sách BVMT 
và thích ứng với BĐKH tại địa phương (%)



 Nguồn: Khảo sát của ILPA & RLS (2025).


Đánh giá sâu hơn về sự tham gia của người dân và cộng đồng trong bảo vệ môi trường (BVMT) và thích ứng với biến đổi khí hậu (BĐKH), trường hợp xã Tiên Yên (tỉnh Quảng Ninh) cung cấp một minh chứng điển hình. Theo Báo cáo của Đảng ủy xã Tiên Yên, nhận thức và hành động của người dân đã có sự chuyển biến rõ rệt, từ tâm thế “chờ vận động” sang “chủ động tham gia”. Sự thay đổi này được thể hiện qua việc triển khai rộng khắp các phong trào như “Thôn kiểu mẫu xanh – sạch – đẹp”, “Gia đình 5 không, 3 sạch”, “Ngày Chủ nhật xanh”, “Tuyến đường hoa phụ nữ tự quản” và “Biến rác thành tiền”.


Báo cáo cho biết 26/26 thôn, khu phố đã thành lập tổ thu gom và phân loại rác tại nguồn; 100% rác thải sinh hoạt được thu gom và vận chuyển về khu xử lý tập trung. Cảnh quan nông thôn được cải thiện theo hướng sáng – xanh – sạch – đẹp, qua đó góp phần nâng cao chất lượng đời sống của người dân. Đáng chú ý, sự tham gia không chỉ dừng ở hành động mà còn thể hiện qua đóng góp nguồn lực cụ thể: người dân tự nguyện đóng phí thu gom rác (20.000–30.000 đồng/hộ/tháng), tự trang bị thùng phân loại và hiến đất xây dựng công trình vệ sinh môi trường.


Trường hợp Tiên Yên cho thấy, khi được tổ chức và dẫn dắt phù hợp, sự tham gia của người dân có thể chuyển hóa thành kết quả quản trị môi trường thực chất ở cấp cơ sở .


Hai là, tiếp đến, chúng tôi xem xét mức độ tham gia của người dân đối với việc hoạch định, thực thi chính sách BVMT và thích ứng với BĐKH tại địa phương (xem Bảng 4). Qua kiểm định độ tin cậy trên thang đo Likert 5 mức độ, về mặt thống kê, 9 khâu/công đoạn được đề xuất đảm bảo độ tin cậy cao, chặt chẽ và phù hợp để xem xét, phân tích về vấn đề này (hệ số Cronbach Alpha = 0.936).


Bảng 2: Mức độ tham gia của người dân vào hoạch định, thực thi chính sách BVMT và thích ứng với BĐKH tại địa phương

 

Nguồn: Khảo sát của ILPA & RLS (2025).


Kết quả khảo sát cho thấy người dân tham gia khá tích cực vào các hoạt động mang tính cộng đồng, đặc biệt là tuyên truyền, vận động người thân thực hiện quy định và phối hợp với chính quyền, cộng đồng khắc phục hậu quả thiên tai. Đây là những hình thức tham gia quen thuộc, gắn trực tiếp với đời sống địa phương nên nhận được sự đồng thuận tương đối cao.


Tuy nhiên, ở các hoạt động đòi hỏi tính chủ động và tương tác trực tiếp với chính quyền – như phản biện, góp ý chính sách, đề xuất sáng kiến hay tham gia bàn bạc các vấn đề cụ thể – mức độ tham gia chỉ ở mức trung bình. Người dân sẵn sàng đóng góp ý kiến khi được mời, nhưng ít chủ động khởi xướng hoặc tham gia sâu vào các khâu phức tạp của chu trình chính sách. Việc tự tổ chức các mô hình, câu lạc bộ hay nhóm hành động về môi trường cũng chưa phổ biến.
Ở chiều ngược lại, người dân thể hiện tinh thần trách nhiệm khá rõ qua việc đóng góp tiền của, công sức và thời gian cho các hoạt động bảo vệ môi trường và ứng phó thiên tai. Họ tích cực tham gia các hoạt động cụ thể như vệ sinh môi trường, phân loại rác, hỗ trợ phương tiện và ngày công khi cần thiết. Điều này cho thấy cộng đồng không thờ ơ, nhưng sự tham gia chủ yếu tập trung ở khâu thực thi, trong khi vai trò trong hoạch định và giám sát chính sách vẫn còn hạn chế.

Kết quả nghiên cứu cho thấy phản biện chính sách bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu là khâu phức tạp và khó tiếp cận nhất, đồng thời có tỷ lệ tham gia thấp nhất trong toàn bộ chu trình chính sách.


Phân tích sâu hơn cho thấy mức độ tham gia phản biện không diễn ra đồng đều giữa các nhóm dân cư. Có sự khác biệt rõ rệt theo giới tính, dân tộc, địa phương cư trú, nghề nghiệp, việc tham gia tổ chức chính trị – xã hội cũng như trải nghiệm chịu tác động của biến đổi khí hậu hoặc thảm họa môi trường. Những khác biệt này có ý nghĩa thống kê, cho thấy các yếu tố cá nhân và bối cảnh xã hội đều ảnh hưởng đến khả năng và mức độ tham gia của người dân trong khâu phản biện chính sách.


Kết quả cho thấy mức độ tham gia phản biện chính sách có sự khác biệt rõ rệt giữa các nhóm dân cư (P < 0,001 đối với hầu hết các biến).


Theo giới tính, nam giới tham gia phản biện ở mức “thường xuyên” và “rất thường xuyên” đạt 39,1% (31,4% và 7,7%), cao hơn nữ giới (33,1%). Ngược lại, tỷ lệ nữ “chưa bao giờ” tham gia là 20,7%, cao hơn đáng kể so với nam (13,7%).
Theo địa phương, Cần Thơ (40,0%) và Tây Ninh (39,7%) có tỷ lệ tham gia thường xuyên cao hơn so với Bắc Ninh (32,6%) và Quảng Ninh (32,0%). Đồng thời, Bắc Ninh và Quảng Ninh có tỷ lệ “chưa bao giờ” tham gia cao hơn (17,6% và 20,9%).
Theo nghề nghiệp, nhóm cán bộ, công chức, viên chức có mức tham gia thường xuyên cao (40,5%), trong khi nhóm làm nông nghiệp có tỷ lệ “rất thường xuyên” thấp nhất (2,8%) và “chưa bao giờ” khá cao (18,1%). Nhân viên văn phòng cũng có tỷ lệ “chưa bao giờ” tham gia tương đối cao (27,0%).


Theo việc tham gia tổ chức chính trị – xã hội, nhóm đang tham gia có tỷ lệ phản biện thường xuyên cao hơn rõ rệt (41,5%) so với nhóm không tham gia (27,5%). Đồng thời, tỷ lệ “chưa bao giờ” tham gia ở nhóm không tham gia tổ chức cao gần gấp đôi (23,5% so với 13,2%).


Theo trải nghiệm tác động môi trường/BĐKH, nhóm từng chịu tác động có tỷ lệ tham gia thường xuyên cao hơn (37,2%) so với nhóm không chịu tác động (34,4%), dù mức chênh lệch không lớn (P = 0,035).


Nhìn chung, phản biện chính sách là khâu có mức độ phân hóa rõ giữa các nhóm xã hội, cho thấy sự khác biệt về nguồn lực, điều kiện tiếp cận và cơ hội tham gia trong chu trình chính sách bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Xét theo giới tính, 39,1% nam giới cho biết “thường xuyên” hoặc “rất thường xuyên” tham gia phản biện chính sách, cao hơn nữ giới (33,1%). Ngược lại, tỷ lệ nữ “chưa bao giờ” tham gia phản biện là 20,7%, cao hơn đáng kể so với nam (13,7%). Điều này cho thấy ở khâu phức tạp nhất của chu trình chính sách, quyền tham gia thực chất chưa phân bổ đồng đều giữa hai giới. Bất bình đẳng giới trong tiếp cận và thực hiện quyền tham gia vẫn là thách thức, có thể liên quan đến hạn chế về nguồn lực, chuẩn mực văn hóa và gánh nặng vai trò kép của phụ nữ.


Xét theo địa phương, Cần Thơ (42,0%) và Tây Ninh (39,7%) có tỷ lệ người dân “thường xuyên”, “rất thường xuyên” tham gia phản biện cao hơn rõ rệt so với Bắc Ninh (32,6%) và Quảng Ninh (32,0%). Đồng thời, Bắc Ninh và Quảng Ninh có tỷ lệ “chưa bao giờ” tham gia cao hơn hai địa phương còn lại. Sự khác biệt này có thể không chỉ do mức độ rủi ro môi trường mà còn phụ thuộc vào chất lượng thể chế và các kênh tham gia chính sách tại địa phương.


Xét theo nghề nghiệp, nhóm cán bộ, công chức, viên chức có tỷ lệ tham gia phản biện cao nhất (40,5%). Trong khi đó, nhóm làm nông nghiệp – dù dễ chịu tác động bởi môi trường và thiên tai – lại có tỷ lệ “rất thường xuyên” tham gia thấp nhất (2,8%) và “chưa bao giờ” tham gia khá cao (18,1%). Điều này cho thấy lợi thế về thông tin, mạng lưới xã hội và sự quen thuộc với quy trình chính sách giúp nhóm CBCCVC tham gia thuận lợi hơn.


Xét theo việc tham gia tổ chức chính trị – xã hội, nhóm là thành viên, hội viên có tỷ lệ “thường xuyên”, “rất thường xuyên” phản biện cao hơn đáng kể (41,5%) so với nhóm không tham gia (27,5%). Đồng thời, tỷ lệ “chưa bao giờ” tham gia ở nhóm này thấp hơn nhiều (13,2% so với 23,5%). Kết quả này cho thấy vai trò trung gian quan trọng của các tổ chức chính trị – xã hội trong việc kết nối người dân với tiến trình chính sách và thúc đẩy sự tham gia tích lũy theo thời gian.


Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã mở rộng quyền và nghĩa vụ của cộng đồng dân cư, đồng thời tăng cường yêu cầu minh bạch thông tin và trách nhiệm giải trình. Tuy nhiên, hiệu quả thực thi phụ thuộc lớn vào cơ chế vận hành ở cấp địa phương và năng lực tham gia của người dân. Thực tế cho thấy, hành lang pháp lý tự thân không bảo đảm sự tham gia thực chất nếu thiếu công cụ thực thi phù hợp, cơ chế khuyến khích và sự chuẩn bị về năng lực cho cộng đồng.


Trong bối cảnh đó, các thiết chế xã hội – đặc biệt là tổ chức tự quản và đoàn thể chính trị – xã hội – giữ vai trò quan trọng trong việc thu hẹp khoảng cách giữa quy định pháp luật và thực tiễn. Việc tham gia các tổ chức này giúp người dân tích lũy “vốn xã hội”, nâng cao sự tự tin, khả năng tiếp cận thông tin và mức độ tác động đến chính sách bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu.


Xét theo trải nghiệm rủi ro, nhóm từng chịu tác động bởi biến cố môi trường hoặc BĐKH có tỷ lệ “thường xuyên”, “rất thường xuyên” tham gia phản biện chính sách là 37,2%, cao hơn nhóm không chịu tác động (34,4%), dù chênh lệch không lớn. Kết quả này cho thấy trải nghiệm trực tiếp có thể thúc đẩy ý thức và động lực tham gia. Tuy nhiên, yếu tố này chưa đủ để tạo ra sự tham gia sâu và bền vững nếu thiếu các điều kiện hỗ trợ về thể chế, chất lượng quản trị địa phương và truyền thông chính sách.


Từ những kết quả nghiên cứu tại bốn tỉnh, thành phố cho thấy nhận thức và sự tham gia của người dân trong hoạch định, ban hành và thực thi chính sách bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu nhìn chung là tích cực, đặc biệt ở cấp cơ sở và trong các hoạt động gắn với cộng đồng dân cư. Tuy nhiên, sự tham gia ở mức độ sâu hơn – như phản biện, đề xuất sáng kiến hay đồng kiến tạo chính sách – vẫn chưa diễn ra thường xuyên và còn hạn chế, nhất là tại những khâu phức tạp của chu trình chính sách đòi hỏi năng lực, thông tin và điều kiện tham gia cao hơn.


Phân tích định lượng cho thấy tồn tại sự khác biệt đáng kể giữa các nhóm xã hội về mức độ tham gia, đặc biệt ở khâu phản biện chính sách. Những nhóm có nguồn lực xã hội và điều kiện tiếp cận tốt hơn – như nam giới, cán bộ, công chức, viên chức, thành viên các tổ chức chính trị – xã hội hoặc những người từng chịu tác động trực tiếp từ vấn đề môi trường – có xu hướng tham gia tích cực hơn. Ngược lại, một số nhóm khác còn gặp hạn chế về cơ hội và điều kiện tham gia.


Thực trạng này đặt ra yêu cầu tiếp tục nghiên cứu sâu hơn các yếu tố tác động, cơ chế thúc đẩy và rào cản đối với sự tham gia của người dân, đồng thời đề xuất các giải pháp bảo đảm tính bao trùm và công bằng trong quản trị môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu. Những nội dung này sẽ được phân tích cụ thể hơn trong các bài viết tiếp theo.

 

Đặng Thị Ánh Tuyết(2)  & Lê Thị Vương Hạnh(3) 

 

[1] Bài viết này dựa trên dự án hợp tác giữa Viện Lãnh đạo học và Hành chính công, HCMA và Quỹ Rosa-Luxemburg – Văn phòng tại Hà Nội.

[2] PGS.TS Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

[3] TS, Trường Chính trị tỉnh Gia Lai


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2025). Quyết định số 383/QĐ-BTNMT ngày 10/02/2025 về việc ban hành Bộ Chỉ số đánh giá kết quả bảo vệ môi trường (PEPI) của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Hà Nội.
2. Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2023). Kết quả thực hiện Bộ Chỉ số đánh giá kết quả bảo vệ môi trường (PEPI) năm 2021–2023. Hà Nội.
3. Trung tâm Nghiên cứu Phát triển và Hỗ trợ Cộng đồng (CECODES), Trung tâm Bồi dưỡng cán bộ và Nghiên cứu khoa học Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (VFF-CRT) và Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc tại Việt Nam (UNDP) (2023). Chỉ số Hiệu quả Quản trị và Hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam (PAPI) năm 2023. Hà Nội.
4. Trung tâm Nghiên cứu Phát triển và Hỗ trợ Cộng đồng (CECODES), VFF-CRT và UNDP (2024). Chỉ số Hiệu quả Quản trị và Hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam (PAPI). Hà Nội.
5. Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh (2023,2024). Báo cáo công tác bảo vệ môi trường.
6. Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh (2023, 2024). Báo cáo công tác bảo vệ môi trường. 
7. Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh (2023,2024). Báo cáo công tác bảo vệ môi trường.
8. Ủy ban nhân dân Thành phố Cần Thơ (2023.2024). Báo cáo công tác bảo vệ môi trườn.
9. Nhóm nghiên cứu (2024). Biên bản tọa đàm chuyên sâu và phỏng vấn sâu với lãnh đạo địa phương, đại diện thiết chế tự quản và người dân tại Bắc Ninh, Tây Ninh, Quảng Ninh và Thành phố Cần Thơ. Tài liệu lưu hành nội bộ.
10. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các tỉnh, thành phố khảo sát (2023–2024). Báo cáo công tác giám sát và phản biện xã hội trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.


Tin Liên quan

Góp ý về nội dung bài viết