Thứ Bảy, ngày 24 tháng 02 năm 2024

Tính cấp thiết của việc xây dựng và thực hiện các hệ giá trị ở Việt Nam hiện nay

Ngày phát hành: 08/03/2023 Lượt xem 1389


 

Xây dựng và thực hiện các hệ giá trị (quốc gia, văn hóa, gia đình và con người) ở Việt Nam hiện nay là một vấn đề hết sức cơ bản, quan trọng, có ý nghĩa lâu dài đối với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Kế thừa và phát triển nhận thức của Đảng về xây dựng hệ giá trị được nêu ra từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (1998), Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (2021) của Đảng đã khẳng định: "Tập trung nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới"[1] [2]. Nhận thức rõ hơn về tính cấp thiết, và nội dung đặt ra đối với việc xây dựng các hệ giá trị trên là một vấn đề vừa có ý nghĩa lý luận, vừa có ý nghĩa thực tiên cấp bách hiện nay.

 

1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu, xây dựng, triển khai thực hiện các hệ giá trị và chuẩn mực con người

 

Có nhiều lý do cho thấy sự cần thiết phải xây dựng và thực hiện các giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và hệ giá trị con người Việt Nam, cả về phương diện chủ quan và khách quan. Ở đây, cần nhấn mạnh một số lý do chính sau:

 

Thứ nhất, công cuộc đổi mới đất nước nhằm thực hiện mục tiêu xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta theo Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991) và Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã xác định: "Đây là một quá trình cách mạng sâu sắc, triệt để, đấu tranh phức tạp giữa cái cũ và cái mới nhằm tạo ra sự biến đổi về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất thiết phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội đan xen''[3].

 

Mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ ở nước ta được Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) nêu rõ là: "Xây dựng được về cơ bản nền tảng kinh tế của chủ nghĩa xã hội với kiến trúc thượng tầng về kinh tế chính trị, tư tưởng, văn hóa, phù hợp, tạo cơ sở để nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa ngày càng phồn vinh hạnh phúc"[4]. Đồng thời Cương lĩnh  cũng xác định: "Từ nay đến giữa thế kỷ XXI, toàn Đảng toàn dân ta phải ra sức phấn đấu xây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa"[5].

 

Đại hội XIII của Đảng đã xác định mục tiêu cụ thể không chỉ trong nhiệm kỳ khóa XIII mà còn mở rộng tầm nhìn, hướng tới dấu mốc quan trọng của đất nước ta trong những thập niên tới để: "Đến năm 2045: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao"[6].

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: "Nhiệm kỳ Đại hội XIII là một dấu mốc, một bước chuyển hết sức sức quan trọng, làm tiền đề để cho các nhiệm kỳ tiếp theo thực hiện thắng lợi mục tiêu chiến lược phát triển đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045"[7]. Một trong những trọng tâm mà Đại hội XIII đặt ra là: "Khơi dậy tinh thần và ý chí, quyết tâm phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; dân tộc cường thịnh, trường tồn; phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc"[8].

 

Có thể nói, quá trình chuyển đổi của đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện từ cơ sở hạ tầng đến kiến trúc thượng tầng để đáp ứng nhu cầu xây dựng đất nước ngày càng phồn vinh, hạnh phúc. Trong quá trình chuyển đổi này, vấn đề xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và hệ giá trị con người Việt Nam đóng góp một vai trò hết sức quan trọng để định hướng, dẫn dắt, đánh giá và điều chỉnh hành vi của xã hội. Sự tiến bộ về vật chất không phải lúc nào và ở đâu cũng đem đến hạnh phúc cho con người nếu không có hệ giá trị định chuẩn để nuôi dưỡng đời sống tinh thần của xã hội theo hướng chân - thiện - mỹ. Đảng ta đã nhận thức rất rõ vai trò của văn hóa và con người trong quá trình phát triển bền vững đất nước. Tu duy mới về văn hóa của Đảng đã khẳng định: Văn hóa là nền tảng tinh thần, là mục tiêu, là động lực và là nguồn lực nội sinh quan trọng để phát triển bền vững đất nước. Con người vừa là trung tâm, vừa là chủ thể quyết định sự phát triển. Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định: "Phát triển con người toàn diện và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hóa, con người Việt Nam thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc... tài năng, trí tuệ, phẩm chất của con người Việt Nam là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng nhất đất nước"[9].

 

Vì vậy, xây dựng các hệ giá trị chính là làm rõ bản chất cốt lõi không chỉ của nền văn hóa mà chúng ta xây dựng mà còn thể hiện bản chất của chế độ chính trị trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đây là cơ sở để củng cố niềm tin, xây dựng môi trường tinh thần lành mạnh cho phát triển bền vững đất nước.

 

Thứ hai, vấn đề xây dựng hệ giá trị đã được Đảng ta đặt ra từ Đại hội VIII (1996), khi nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và bắt đầu bước vào chặng đường đầu của thời kỳ quá độ là đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đại hội VIII của Đảng đã nêu rõ: "Hình thành hệ giá trị và chuẩn mực xã hội mới phù hợp với truyền thống, bản sắc dân tộc và yêu cầu của thời đại"[10]. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII (1998) về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đã xác định "những giá trị văn hóa bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam" tạo thành bản sắc văn hóa dân tộc. "Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tình đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động, sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống..."[11]. Đồng thời, trong Nghị quyết này, Đảng ta đã xác định những đức tính con người Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới cần xây dựng. Đó là "tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có ý chí vươn lên đua đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, đoàn kết với nhân dân thế giới trong sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

  • Có ý thức tập thể, đoàn kết, phấn đấu vì lợi ích chung.
  • Có lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh, cần kiệm, trung thực, nhân nghĩa, tôn trọng kỷ cương phép nước, quy uớc cộng đồng; có ý thức bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái.
  • Lao động chăm chỉ với lương tâm nghề nghiệp, có kỹ thuật, sáng tạo, năng suất cao vì lợi ích của bản thân, gia đình, tập thể và xã hội.
  • Thường xuyên học tập, nâng cao hiểu biết, trình độ chuyên môn, trình độ thẩm mỹ và thể lực"[12].

Tiếp sau đó, trong các kỳ Đại hội IX (2001); Đại hội X (2006); Đại hội XI (2011); Đại hội XII (2016); Đại hội XIII (2021) và trong các Nghị quyết chuyên đề về văn hóa như Kết luận của Hội nghị Trung ương 10 khóa IX về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong những năm sắp tới; Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2014 của Hội nghị Trung ương 9 khóa XI (2014) về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước; Kết luận số 76-KL/TW ngày 04/6/2020 của Bộ Chính trị khóa XII về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ưong Đảng khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.

 

Đặc biệt, đến Đại hội XIII (2021), Đảng ta đã nhấn mạnh yêu cầu đầu tiên để xây dựng và phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam là "tập trung nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người gắn với gìn giữ, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới"[13].

 

Như vậy, sự nghiệp đổi mới của đất nước đã đi được một chặng đường dài hơn 36 năm, trong đó Đảng ta luôn trăn trở về xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và hệ giá trị con người Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới kéo dài 22 năm (hơn 4 nhiệm kỳ Đại hội). Điều đó cho thấy đây là vấn đề cốt lõi, trọng yếu và cũng là vấn đề rất khó khăn, phức tạp, cần có sự thống nhất cao của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trong bối cảnh sôi động của quá trình đổi mới đất nước. Mặc dù là vấn đề khó khăn, phức tạp, kéo dài nhiều kỳ Đại hội, nhưng đã đến lúc chúng ta phải có câu trả lời để đáp ứng nhu cầu phát huy các giá trị văn hóa và sức mạnh con người Việt Nam trong xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng và yêu cầu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong bài phát biểu tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc tổ chức ngày 24/11/2021.

 

Thứ ba, vấn đề nghiên cứu các hệ giá trị văn hóa và con người ở Việt Nam đã được quan tâm ở nhiều cấp độ và bình diện khác nhau. Những kết quả nghiên cứu của Nguyễn Hồng Phong (1963); Vũ Khiêu (1974); Trần Văn Giàu (1980) đã góp phần khẳng định những đặc tính, giá trị tinh thần và giá trị đạo đức tiêu biểu trong văn hóa và con người Việt Nam. Khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, đặc biệt từ Đại hội VIII (1996) đến nay, vấn đề nghiên cứu xây dựng hệ giá trị này càng được đông đảo các nhà khoa học, các tổ chức và cơ quan nghiên cứu chú trọng. Tiêu biểu là các đề tài khoa học trọng điểm cấp nhà nước (do Phạm Minh Hạc (1995), Trần Ngọc Thêm (2011- 2015) và Nguyên Ngọc Thiện (2016-2020) làm chủ nhiệm thuộc Chuơng trình nghiên cứu do Hội đồng Lý luận Trung uơng tổ chức. Kết quả nghiên cứu của các đề tài này đã góp phần xác định rõ vai trò, vị trí cũng nhu nội dung cơ bản của việc xây dựng hệ giá trị văn hóa, con người Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Bên cạnh đó, rất nhiều chuyên gia, nhà khoa học đã trao đổi, đưa ra đề xuất có ý nghĩa rất thiết thực về vấn đề xây dựng hệ giá trị văn hóa, gia đình và con người Việt Nam hiện nay nhu Phạm Xuân Nam (2008), (2018); Phạm Duy Đức (2018), Lương Đình Hải, Hoàng Chí Bảo, Nguyên Hữu Thức, Nguyên Hữu Sơn, Vũ Ngọc Hoàng, Nguyên Quốc Hùng, Nguyên Chí Bền, Hồ Sĩ Quý, Lê Thanh Bình, Nguyên Duy Bắc, Đinh Xuân Dũng, Trần Quốc Toản, Trần Văn Bính, Trần Thị An[14]. Những trao đổi, đề xuất về xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và con người Việt Nam đã đem lại một bức tranh đa diện, đa chiều về sự cần thiết cũng như luận giải về việc xác lập nội dung cơ bản của các giá trị trên. Tuy nhiên, từ nghiên cứu khoa học đến sự sàng lọc, tiếp nhận để làm cơ sở cho các kết luận chính trị, đưa vào để tổ chức thực hiện trong hoạt động thực tiễn có sự khác biệt. Điều này cũng không thể hấp tấp vội vàng nhưng cũng không thể để quá lâu. Đại hội XIII của Đảng đã xác định rõ yêu cầu là "tập trung nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới"[15], vì vậy, trên cơ sở tổng kết các thành tựu nghiên cứu khoa học đã đạt được, Đảng ta cần có kết luận chính trị về xây dựng các hệ giá trị này để định hướng và tổ chức thực hiện trong đời sống xã hội.

 

2. Những nội dung cơ bản của hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người việt Nam

 

Trong bài phát biểu tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc tổ chức ngày 24/11/2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: "Xây dựng con người Việt Nam thời kỳ đổi mới, phát triển, hội nhập với những giá trị chuẩn mực phù hợp, gắn với giữ gìn, phát huy giá trị gia đình Việt Nam, hệ giá trị văn hóa, giá trị của quốc gia - dân tộc; kết hợp nhuần nhuyễn những giá trị truyền thống với giá trị thời đại: Yêu nước, đoàn kết, tự cường, tình nghĩa, trung thực, trách nhiệm, kỷ cương, sáng tạo. Những giá trị ấy được nuôi dưỡng bởi văn hóa gia đình Việt Nam với những giá trị cốt lõi: Ấm no, hạnh phúc, tiến bộ, văn minh; được bồi đắp, phát triển bởi nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc với hệ giá trị: Dân tộc, dân chủ, nhân văn và khoa học; trên nền tảng của hệ giá trị quốc gia và cũng là mục tiêu phấn đấu cao cả của dân tộc ta: Hòa bình, thống nhất, độc lập, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, hạnh phúc".

 

Có thể khẳng định đây là sự tổng kết và khái quát hóa cao những hệ giá trị quốc gia, văn hóa, gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam cần được khẳng định và triển khai trong thời kỳ đổi mới hiện nay ở Việt Nam.

 

Tư tưởng nổi bật và xuyên suốt ở đây là xây dựng các hệ giá trị này phải bảo đảm kết hợp nhuần nhuyễn những giá trị truyền thống với giá trị thời đại, đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

 

Về hệ giá trị chuẩn mực con người Việt Nam, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh tám chuẩn mực và cũng là tám đặc tính cần thiết phải củng cố và xây dựng là: yêu nước, đoàn kết, tự cường, nghĩa tình, trung thực, trách nhiệm, kỷ cương, sáng tạo. Bên cạnh các đặc tính truyền thống vốn có của con người Việt Nam là yêu nước, đoàn kết, tự cường, nghĩa tình, trung thực, Tổng Bí thư đã chú trọng đến chuẩn mực mới cần xây dựng là trách nhiệm, kỷ cương, sáng tạo. Điều này rất phù hợp để con người Việt Nam vừa kế thừa và phát huy được giá trị truyền thống trong đạo lý của dân tộc, vừa đề cao kỷ cương, trách nhiệm của công dân trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

 

Vê hệ giá trị gia đình Việt Nam, Tổng Bí thư đã nhấn mạnh đến các giá trị cơ bản và cốt lõi là "Ấm no, hạnh phúc, tiến bộ, văn minh". Ấm no là nguyện vọng chính đáng và là điểm tựa cơ bản để xây dựng gia đình hạnh phúc. Hạnh phúc của gia đình Việt Nam không chỉ dựa trên cơ sở vật chất ổn định, giàu có mà còn phụ thuộc vào sự bền chặt của các giá trị tinh thần, tình cảm huyết thống và gia phong, nền nếp của gia đình. Những giá trị này phù hợp với xu hướng tiến bộ, văn minh của thời đại, bảo đảm các quyền bình đẳng nam nữ, quyền của trẻ em và chăm sóc, phụng dưỡng người già, tri ân công đức đối với các thế hệ tiền nhân trong dòng tộc và đất nước, khắc phục những lề thói, hủ tục lạc hậu trong gia đình, cộng đồng.

 

Về giá trị văn hóa Việt Nam, Tổng Bí thư đã khẳng định bốn đặc trưng và cũng là giá trị cốt lõi trong xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là: Dân tộc, dân chủ, nhân văn và khoa học. Đây là những giá trị đã được khẳng định trong Nghị quyết số 33/NQ-TW ngày 09/6/2014 của Hội nghị Trung ương 9 khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước và đã được thống nhất cao trong các văn kiện của Đảng từ khóa X đến nay.

 

Về hệ giá trị quốc gia và cũng là mục tiêu phấn đấu cao cả của toàn dân tộc ta, Tổng Bí thư đã đúc kết thành 9 giá trị tiêu biểu là: Hòa bình, thống nhất, độc lập, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, hạnh phúc.

 

Hòa bình là giá trị cơ bản của dân tộc Việt Nam, được hình thành trong suốt tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, được phát huy cao độ trong thời đại Hồ Chí Minh dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và phù hợp với khát vọng chung của nhân dân tiến bộ trên thế giới. Trong tiến trình lịch sử, nhân dân ta đã chiến đấu, hy sinh để giành lại hòa bình cho dân tộc Việt Nam. Ngày nay, hòa bình được định nghĩa gắn liền với phát triển. Không có hòa bình thì không có phát triển, vì vậy, Đảng ta đã liên tục khẳng định cần phải giữ gìn môi trường hòa bình cho phát triển bền vững đất nước, bao gồm môi trường hòa bình ở trong nước và môi trường hòa bình ở khu vực và quốc tế.

 

Giá trị "hòa bình" của Việt Nam gắn liền với bảo vệ "hòa bình" thế giới, vì vậy, Việt Nam đã tích cực tham gia củng cố hòa bình ở khu vực và trên thế giới. Đây cũng chính là chiến lược bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa mà Đảng ta đã đề ra. Điều này phản ánh tầm nhìn rộng lớn và sâu sắc mà Tổng Bí thư đã nêu ra khi đặt giá trị hòa bình lên vị trí đầu tiên trong hệ giá trị quốc gia.

 

Giá trị "thống nhất" phản ánh nguyện vọng của nhân dân trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước vì sự thống nhất đất nước, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc. Sự thống nhất ở đây trước hết là sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, thống nhất về ý chí, tinh thần, tình cảm và nghị lực của dân tộc trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thống nhất về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, an ninh quốc phòng, đối ngoại. Điều quan trọng hơn cả là thống nhất về "lòng dân" phù hợp với "ý Đảng" dựa trên nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối lãnh đạo của Đảng trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước hiện nay. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: "Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công". Đoàn kết là cơ sở cho sự thống nhất ý chí và khát vọng của quốc gia - dân tộc. Sự thống nhất là điều kiện để tạo nên động lực tinh thần, sức mạnh nội sinh quan trọng nhất để phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần nhấn mạnh đến vấn đề bảo đảm sự thống nhất trong Đảng và ngoài xã hội theo tinh thần "Tiền hô hậu ủng, nhất hô bá ứng, trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt"... Trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, đề cao "giá trị thống nhất" cũng chính là đề cao sự cố kết cộng đồng, liên kết dân tộc, đề cao kỷ cương, kỷ luật, đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết, trước hết, chống mọi mưu toan chia rẽ, phân hóa sức mạnh của dân tộc trong thời kỳ mới, khi mà các thế lực thù địch vẫn đang ráo riết tìm cách chống phá, cản trở sự nghiệp đổi mới của đất nước.

 

Giá trị "độc lập" là giá trị xuyên suốt trong chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam và được đặc biệt đề cao trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược dưới sự lãnh đạo của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần nhấn mạnh: "Không có gì quý hơn độc lập, tự do". Trong thời kỳ hòa bình, xây dựng và phát triển đất nước hiện nay, giá trị "độc lập" vẫn là giá trị cốt lõi chi phối mọi hoạt động xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bài học kinh nghiệm lịch sử của dân tộc đã cho chúng ta thấy rõ giá trị của "độc lập", tự chủ, tự cường dân tộc chính là nguồn gốc làm nên sức mạnh sáng tạo, ý chí kiên cường, bất khuất của dân tộc trước mọi thách thức của lịch sử. Từ thực tiễn công cuộc đổi mới, nhất là 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, Đại hội XIII của Đảng đã chỉ ra 5 bài học kinh nghiệm quý báu, trong đó có bài học thứ năm là: "... Kiên quyết, kiên trì bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc đi đôi với giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn để phát triển đất nước. Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ, tự cường. Xử lý đúng đắn, hiệu quả mối quan hệ với các nước lớn và các nước láng giềng; đánh giá đúng xu thế, nắm bắt đúng thời cơ. Phát huy hiệu quả sức mạnh tổng hợp của đất nước kết hợp với sức mạnh của thời đại. Khai thác, sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới"[16].

 

Vì vậy, lựa chọn giá trị "độc lập" là một đòi hỏi tất yếu, khách quan của sự nghiệp đổi mới hiện nay. Tất nhiên, quan niệm "độc lập" ở đây không phải là sự "đóng băng", "khép kín" mà đặt trong mối quan hệ tương tác, tùy thuộc lẫn nhau theo tinh thần đa phương hóa, đa dạng hóa các mối quan hệ quốc tế trên cơ sở tôn trọng lợi ích chính đáng của mỗi quốc gia - dân tộc, phát huy nội lực, tranh thủ ngoại lực, kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động phức tạp, khó lường như hiện nay.

 

Các giá trị "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh" là các giá trị đã được khẳng định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991) và Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011). Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng đã xác định: "Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh... "[17].

 

Dân giàu là nguyện vọng phấn đấu chung của mọi người dân Việt Nam; có ý nghĩa là giàu cả vật chất và tinh thần. Dân giàu là sự nâng cao về mức sống chung của tất cả các tầng lớp nhân dân ở mọi vùng miền của Tổ quốc trên cơ sở giúp đỡ nhau làm giàu hợp pháp, xóa bỏ bất bình đẳng, bảo đảm an sinh xã hội để mọi người dân đều được hưởng thụ thành quả của phát triển chứ không phải dành riêng cho một nhóm người. Dân giàu phải gắn liền với khát vọng cống hiến để phát triển đất nước giàu mạnh, nâng cao vị thế và uy tín của quốc gia trong quan hệ quốc tế. Nước mạnh ở đây bao gồm cả sức mạnh về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, đối ngoại, an ninh, quốc phòng, để giữ vững độc lập, tự chủ của quốc gia dân tộc. Dân giàu, nước mạnh phải dựa trên nền tảng của dân chủ, công bằng, văn minh. Dân chủ ở đây là dân chủ xã hội chủ nghĩa, là sự bảo đảm về quyền làm chủ của nhân dân trên cơ sở tôn trọng và thực hiện theo Hiến pháp và pháp luật, bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong sự nghiệp phát triển. Dân chủ là cơ sở để bảo đảm công bằng xã hội, tạo điều kiện để nhân dân có thể tiếp cận bình đẳng cơ hội phát triển và phát huy năng lực của mình. Đồng thời, phải hướng tới xây dựng một xã hội văn minh, tiệm cận với trình độ văn minh chung của khu vực và thế giới, loại bỏ những hạn chế trong lề thói cũ, tiếp thu sáng tạo thành tựu văn hóa, văn minh của thế giới để hiện đại hóa đất nước.

 

Giá trị "hạnh phúc" là giá trị bao quát tổng họp khát vọng của toàn dân tộc về cuộc sống hòa bình, thống nhất, độc lập, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Hạnh phúc là mục tiêu phấn đấu chung của dân tộc ta và cũng là mục tiêu của tất cả mọi người dân Việt Nam hiện nay. Hạnh phúc của quốc gia - dân tộc phải được đo bằng sự hài lòng của người dân về chất lượng của cuộc sống không ngừng được cải thiện gắn liền với các thể chế, cơ chế và điều kiện bảo đảm quyền hạnh phúc của người dân cũng nhu sự nỗ lực phấn đấu của mỗi cá nhân trong xây dựng cuộc sống hạnh phúc cho bản thân và cho đất nước, xây dựng hình ảnh về một dân tộc hạnh phúc.

 

Nhìn tổng thể, hệ giá trị quốc gia mà Tổng Bí thư nêu ra đã bao trùm những mục tiêu phát triển bền vững đất nước và cũng là mục tiêu phấn đấu chung của toàn Đảng, toàn dân ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Hệ giá trị cốt lõi của quốc gia mang tính phổ quát này có ý nghĩa định hướng và định hình cho hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam hiện nay. Các hệ giá trị này có mối liên hệ biện chứng, tác động và hỗ trợ lẫn nhau trong sự nghiệp xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam nói riêng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam nói chung. Có thể nói đây cũng là sự tổng kết, chắt lọc các kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học và đúc kết các thành tựu lý luận về các hệ giá trị đã được khẳng định trong văn kiện của Đảng qua các kỳ Đại hội. vì vậy, đã đến lúc chúng ta cần thống nhất với ý kiến chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, khẳng định tám chuẩn mực con người Việt Nam, bốn giá trị gia đình, bốn giá trị văn hóa và chín giá trị quốc gia tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc tổ chức ngày 24/11/2021 để tổ chức triển khai trong hoạt động của toàn Đảng, toàn dân.

 

PGS.TS. Phạm Duy Đức*



* Viện Văn hóa phát triển, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t.I, tr.143.

[3]  Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ Xỉ, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội - Sự thật, 2011, tr.70.

[4]  Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ Xỉ, Sđd, tr.71.

[5]  Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ Xỉ, Sđd, tr.71.

[6]  Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t.I, tr.36.

[7]  Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t.I, tr.40.

[8]  Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t.I, tr.46.

[9]  Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t.I, tr.115-116.

[10] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đôỉ mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr.495.

[11] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Châp hành Trung ương khóa VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, tr.56.

[12] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Châp hành Trung ương khóa VIII, Sđd, tr.59.

[13] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t.I, tr.143.

[14] Xem: Viện Văn hóa nghệ thuật quốc gia Việt Nam, Nhiều tác giả: Hệ giá trị văn hóa và con người Việt Nam, Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 2018.

[15] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t.I, tr.143.

[16] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, 1.1, tr.29-30.

[17] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Sđd, tr.70.

Tin Liên quan

Góp ý về nội dung bài viết