Sáng 8/6/2026, chủ trì buổi làm việc với Ban Chính sách, chiến lược Trung ương và các cơ quan liên quan về Đề án tổng kết Nghị quyết số 36-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đưa ra những định hướng lớn cho chặng đường phát triển tiếp theo của đất nước nhìn từ biển. Trong đó, yêu cầu “chuyển mạnh từ tư duy kinh tế biển sang tư duy không gian phát triển biển quốc gia mạnh” không chỉ là sự kế thừa những thành quả đã đạt được mà còn mở ra tầm nhìn chiến lược mới, phù hợp với yêu cầu phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn mới.

Chủ trương đúng đắn, tầm nhìn chiến lược về phát triển bền vững kinh tế biển
Là một quốc gia có hơn 3.260 km bờ biển, vùng đặc quyền kinh tế rộng lớn cùng vị trí địa chiến lược quan trọng ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, Việt Nam từ lâu đã xác định biển là nguồn lực đặc biệt quan trọng cho phát triển. Trong tiến trình đổi mới đất nước, nhận thức của toàn hệ thống chính trị và Nhân dân về vị trí, vai trò của biển, đảo đối với phát triển kinh tế, bảo vệ chủ quyền quốc gia đã được nâng lên rõ rệt.
Ngày 22/9/1997, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị 20-CT/TW về đẩy mạnh phát triển kinh tế biển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tiếp đó, ngày 9/2/2007, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá X) đã thông qua Nghị quyết số 09-NQ/TW về "Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”.
Đặc biệt, ngày 22/10/2018, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 với mục tiêu “đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh”. Nghị quyết số 36-NQ/TW đã thể hiện bước phát triển mới trong tư duy của Đảng khi lần đầu tiên đặt mục tiêu phát triển kinh tế biển trên nền tảng bền vững, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường, bảo tồn hệ sinh thái, bảo đảm quốc phòng, an ninh và nâng cao đời sống Nhân dân vùng biển.
Nghị quyết xác định rõ quan điểm: phát triển bền vững kinh tế biển trên cơ sở tăng trưởng xanh, bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường biển; khai thác, sử dụng hiệu quả tài nguyên biển; gắn phát triển kinh tế biển với bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Đồng thời, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và Nhân dân trong quá trình khai thác tiềm năng biển.
Đây là chủ trương có ý nghĩa chiến lược lâu dài bởi trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt, biến đổi khí hậu, nước biển dâng và suy giảm nguồn tài nguyên biển đang trở thành những thách thức toàn cầu, phát triển kinh tế biển không thể tiếp tục dựa vào khai thác tài nguyên theo chiều rộng mà phải dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và quản trị hiện đại.
Từ chủ trương đúng đắn đó, hệ thống chính sách, pháp luật về biển từng bước được hoàn thiện. Quy hoạch không gian biển quốc gia, quy hoạch tổng thể khai thác tài nguyên vùng bờ, chiến lược tăng trưởng xanh, chiến lược bảo vệ môi trường biển và hải đảo được xây dựng đồng bộ hơn. Nhiều địa phương ven biển đã xác định rõ kinh tế biển là trụ cột phát triển, từ đó chủ động thu hút đầu tư, hình thành các trung tâm kinh tế, logistics, du lịch và công nghiệp biển quy mô lớn.
Tại buổi làm việc ngày 8/6, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định: “Sau 8 năm thực hiện, nhận thức về vị trí, vai trò của biển được nâng lên. Hệ thống thể chế, chính sách từng bước đã được hoàn thiện. Nhiều ngành kinh tế biển phát triển khá. Kết cấu hạ tầng ven biển được tăng cường. Đời sống của người dân vùng biển được cải thiện. Quốc phòng, an ninh đối ngoại, bảo vệ chủ quyền biển đảo đạt được nhiều kết quả quan trọng”.
Quy hoạch bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh với bảo tồn các giá trị tự nhiên. Ảnh minh họa: Châu Đạo Cường/TTXVN phát
“Chuyển mạnh từ tư duy kinh tế biển sang tư duy không gian phát triển biển quốc gia mạnh”
Bên cạnh những kết quả đạt được, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cũng nhìn nhận, kinh tế biển vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng, lợi thế và yêu cầu phát triển của đất nước. Do đó, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu phải khẩn trương tổng kết Nghị quyết số 36-NQ/TW và xây dựng nghị quyết mới, không chỉ kế thừa và phát huy những kết quả đã đạt được mà còn phải tạo ra bước chuyển biến mạnh mẽ về tư duy, thể chế và mô hình phát triển biển với tầm nhìn mới.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chỉ rõ, cần đổi mới tư duy và tầm nhìn phát triển biển trong giai đoạn mới; trọng tâm là phải chuyển mạnh từ tư duy kinh tế biển sang tư duy không gian phát triển biển quốc gia mạnh. Đây là bước phát triển mới trong nhận thức chiến lược về biển. Nếu tư duy kinh tế biển chủ yếu tập trung vào các ngành khai thác và sử dụng tài nguyên biển, thì tư duy không gian phát triển biển quốc gia đặt biển trong tổng thể chiến lược phát triển đất nước.
Như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã nhấn mạnh, biển không chỉ là nơi khai thác tài nguyên hay phát triển một số ngành kinh tế mà phải được xác định là không gian phát triển chiến lược của quốc gia, là nơi hội tụ các lợi ích phát triển, quốc phòng, an ninh, khoa học công nghệ và hội nhập quốc tế. Tư duy mới này đòi hỏi cách tiếp cận toàn diện hơn trong quy hoạch, quản lý và khai thác biển. Không chỉ trả lời câu hỏi phát triển ngành nào trên biển, mà còn phải xác định cách thức quản trị toàn bộ không gian biển quốc gia để phục vụ mục tiêu phát triển dài hạn của đất nước.
Một nội dung đáng chú ý khác là yêu cầu tiếp cận biển bằng tư duy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị nghiên cứu bổ sung các nội dung như dữ liệu biển quốc gia, bản đồ số đại dương, trí tuệ nhân tạo trong quản trị biển. Điều này cho thấy phát triển kinh tế biển trong giai đoạn mới sẽ không chỉ dựa vào nguồn tài nguyên tự nhiên mà phải dựa ngày càng nhiều vào tri thức, công nghệ và năng lực đổi mới sáng tạo. Đây cũng là xu hướng mà nhiều quốc gia biển mạnh trên thế giới đang theo đuổi.
Cùng với đó, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu phải kết hợp chặt chẽ giữa phát triển và bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ biển. Mọi quy hoạch, chiến lược, chương trình phát triển biển đều phải đồng thời phục vụ yêu cầu bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, nâng cao năng lực phòng thủ và bảo vệ lợi ích quốc gia trên biển. Mỗi công trình kinh tế trên biển đều phải góp phần tăng cường tiềm lực phát triển và bảo vệ Tổ quốc... Định hướng này tiếp tục khẳng định quan điểm nhất quán của Đảng: phát triển kinh tế biển và bảo vệ chủ quyền biển, đảo là hai nhiệm vụ gắn bó hữu cơ, không tách rời.
Vẻ đẹp hoang sơ trên cung đường ven biển Kỳ Xuân
Đưa biển trở thành động lực chiến lược của quốc gia
Nhìn từ những thành tựu đã đạt được và những yêu cầu mới của thực tiễn, có thể thấy việc xây dựng nghị quyết mới về phát triển biển không chỉ là sự tiếp nối Nghị quyết số 36-NQ/TW mà còn là bước phát triển mới trong tư duy chiến lược của Đảng.
Mục tiêu mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt ra rất rõ ràng: xây dựng nghị quyết mới có tầm nhìn chiến lược dài hạn, tư duy đột phá và tính hành động cao; đưa biển thực sự trở thành không gian phát triển chiến lược của quốc gia, tạo động lực mới cho tăng trưởng nhanh và bền vững.
Trong hành trình hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, biển sẽ không chỉ là nguồn lực tự nhiên quý giá mà còn là không gian chiến lược mở ra những cơ hội phát triển mới. Từ kinh tế hàng hải, logistics, du lịch biển, nuôi biển công nghệ cao đến năng lượng tái tạo ngoài khơi, khoa học công nghệ biển và kinh tế số biển, tất cả đang tạo nên dư địa rộng lớn cho tăng trưởng trong nhiều thập niên tới.
Với tầm nhìn mới mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt ra, biển không chỉ là nguồn lực phát triển mà còn là không gian chiến lược quyết định vị thế quốc gia trong thế kỷ XXI. Khai thác hiệu quả, quản trị hiện đại và phát triển bền vững không gian biển sẽ là điều kiện quan trọng để Việt Nam hiện thực hóa khát vọng trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045./.
Theo TTXVN