Thứ Năm, ngày 25 tháng 06 năm 2026

Thành tựu và những vấn đề đặt ra trong dự báo, nghiên cứu lý luận về quân sự, quốc phòng trong thời kỳ mới

Ngày phát hành: 25/06/2026 Lượt xem 24

                                          

1. Đặt vấn đề

 

Trong tiến trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, nghiên cứu lý luận về quân sự, quốc phòng luôn giữ vị trí đặc biệt quan trọng. Đây không chỉ là lĩnh vực nghiên cứu phục vụ trực tiếp nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, mà còn là cơ sở khoa học để Đảng, Nhà nước hoạch định đường lối, chiến lược, chính sách quốc phòng phù hợp với từng giai đoạn cách mạng. Trong bối cảnh hiện nay, khi tình hình thế giới, khu vực biến động nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt; các hình thái chiến tranh mới, chiến tranh công nghệ cao, chiến tranh mạng, chiến tranh thông tin, chiến tranh nhận thức, tác chiến phi tiếp xúc và các thách thức an ninh phi truyền thống xuất hiện ngày càng nhiều, yêu cầu đổi mới công tác dự báo và nghiên cứu lý luận về quân sự, quốc phòng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.

 

Lữ đoàn 26 (Quân chủng Phòng không - Không quân) tổ chức huấn luyện bắn súng cho chiến sĩ.  

 

Văn kiện Đại hội XIV của Đảng tiếp tục phát triển tư duy bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới, nhấn mạnh yêu cầu bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, “giữ nước từ khi nước chưa nguy”; kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; giữa quốc phòng, an ninh, đối ngoại với phát triển kinh tế - xã hội; xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân vững mạnh, hiện đại; xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh theo hướng tự lực, tự cường, hiện đại, lưỡng dụng. Những quan điểm đó đặt ra yêu cầu mới đối với công tác nghiên cứu lý luận quân sự, quốc phòng, không chỉ tổng kết thực tiễn, luận giải những vấn đề đã và đang diễn ra, mà còn phải nâng cao năng lực dự báo chiến lược, nhận diện sớm nguy cơ, tham mưu kịp thời những chủ trương, giải pháp bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới. Văn kiện Đại hội XIV cũng chỉ rõ yêu cầu: “Chủ động nghiên cứu, đánh giá, dự báo đúng tình hình, xử lý kịp thời các tình huống về quốc phòng, an ninh, các vấn đề trật tự, an toàn xã hội, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống”[1].

 

Từ góc độ đó, việc nhận diện thành tựu và những vấn đề đặt ra trong dự báo, nghiên cứu lý luận về quân sự, quốc phòng có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn. Đây là cơ sở để tiếp tục hoàn thiện hệ thống lý luận bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN; nâng cao chất lượng tham mưu chiến lược; chủ động thích ứng với những biến đổi của môi trường an ninh; góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới.

 

2. Những thành tựu chủ yếu trong dự báo, nghiên cứu lý luận về quân sự, quốc phòng

 

Thứ nhất, Đảng ta đã “phát triển toàn diện tư duy bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong điều kiện mới”[2]. Qua 40 năm đổi mới, nhận thức của Đảng về quốc phòng, quân sự, bảo vệ Tổ quốc không ngừng được bổ sung, phát triển. Nếu trước đây bảo vệ Tổ quốc chủ yếu được tiếp cận từ góc độ bảo vệ biên giới, lãnh thổ, chủ quyền quốc gia trong điều kiện chiến tranh hoặc nguy cơ chiến tranh, thì hiện nay nội hàm bảo vệ Tổ quốc đã được mở rộng hơn, toàn diện hơn. Bảo vệ Tổ quốc không chỉ là bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, mà còn là bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ XHCN; bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; bảo vệ an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ môi trường hòa bình, ổn định để phát triển; bảo vệ không gian mạng, chủ quyền số, an ninh dữ liệu và không gian phát triển của đất nước.

 

Điểm nổi bật trong phát triển tư duy lý luận là chuyển mạnh từ tư duy bị động ứng phó đến tư duy chủ động phòng ngừa; từ bảo vệ Tổ quốc khi có tình huống đến bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; từ coi quốc phòng chủ yếu là nhiệm vụ quân sự đến coi quốc phòng là sức mạnh tổng hợp của quốc gia, kết hợp chặt chẽ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học - công nghệ, đối ngoại, an ninh và quân sự. Đây là thành tựu lý luận có ý nghĩa nền tảng, phản ánh tư duy chiến lược mới của Đảng trước những biến đổi sâu sắc của thời đại.

 

Thứ hai, công tác dự báo chiến lược về quân sự, quốc phòng từng bước được coi trọng và có nhiều chuyển biến tích cực. “Đã chủ động triển khai công tác nghiên cứu, dự báo đúng tình hình, kịp thời đề ra các chủ trương, đối sách xử lý tốt các tình huống, không để bị động, bất ngờ”[3]. Thực tế, nhiều năm qua, các cơ quan nghiên cứu chiến lược, các học viện, nhà trường quân đội, các cơ quan tham mưu chiến lược đã chú trọng hơn đến việc nghiên cứu, đánh giá tình hình thế giới, khu vực, nhất là các biến động liên quan đến cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, an ninh biển, an ninh biên giới, an ninh mạng, an ninh phi truyền thống và các nguy cơ tác động trực tiếp đến quốc phòng, an ninh của Việt Nam. Hệ thống đề tài cấp nhà nước và cấp bộ Quốc phòng đã có nhiều kết quả góp phần quan trọng vào việc xây dựng, bổ sung, hoàn thiện đường lối quốc phòng, chiến lược bảo vệ Tổ quốc, chiến lược quốc phòng, chiến lược quân sự, chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia, chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng và các chủ trương lớn về xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam trong tình hình mới. Đáng chú ý, công tác dự báo đã từng bước tiếp cận các vấn đề mới như chiến tranh công nghệ cao, tác chiến không gian mạng, tác chiến điện tử, tác chiến thông tin, tác chiến phi tiếp xúc, chiến tranh nhận thức, cạnh tranh địa công nghệ, chủ quyền số, an ninh chuỗi cung ứng, an ninh năng lượng, an ninh nguồn nước, biến đổi khí hậu và các thách thức phi truyền thống. Đây là bước tiến quan trọng, cho thấy nghiên cứu lý luận quân sự, quốc phòng đã không còn giới hạn trong phạm vi chiến tranh truyền thống, mà đang mở rộng sang các lĩnh vực mới gắn với bản chất biến đổi của chiến tranh và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên số.

 

Thứ ba, lý luận về xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân ngày càng được hoàn thiện. Một trong những thành tựu nổi bật của lý luận quốc phòng Việt Nam là khẳng định và phát triển quan điểm xây dựng nền quốc phòng toàn dân, lấy sức mạnh của toàn dân tộc làm nền tảng, kết hợp với sức mạnh thời đại để bảo vệ Tổ quốc. Trong điều kiện mới, lý luận về quốc phòng toàn dân không chỉ dừng lại ở xây dựng lực lượng, thế trận, khu vực phòng thủ, mà đã mở rộng sang xây dựng tiềm lực chính trị - tinh thần, tiềm lực kinh tế, tiềm lực khoa học - công nghệ, tiềm lực đối ngoại, tiềm lực văn hóa và “thế trận lòng dân”. Nhận thức về khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố; kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế; xây dựng các địa bàn chiến lược, biên giới, biển đảo; phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ chủ quyền biển, đảo; xây dựng công nghiệp quốc phòng lưỡng dụng; kết hợp quốc phòng, an ninh, đối ngoại trong xử lý các vấn đề chiến lược đã có bước phát triển rõ nét. Điều này góp phần quan trọng vào việc củng cố sức mạnh tổng hợp bảo vệ Tổ quốc, tạo nền tảng để đất nước vừa phát triển kinh tế - xã hội, vừa giữ vững quốc phòng, an ninh trong mọi tình huống.

 

Thứ tư, nghiên cứu lý luận về xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam có bước phát triển phù hợp yêu cầu hiện đại hóa. Những năm qua, lý luận về xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại và tiến lên hiện đại đã được bổ sung, phát triển cả về nội dung và phương thức tiếp cận. Trọng tâm không chỉ là xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, mà còn là xây dựng quân đội có tổ chức tinh, gọn, mạnh; có chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu cao; làm chủ vũ khí, trang bị hiện đại; có năng lực tác chiến trong điều kiện chiến tranh công nghệ cao; có khả năng tham gia xử lý các thách thức an ninh phi truyền thống, cứu hộ, cứu nạn, phòng, chống thiên tai, dịch bệnh và tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc. Đặc biệt, tư duy về hiện đại hóa quân đội đã gắn chặt hơn với phát triển khoa học - công nghệ, chuyển đổi số, công nghiệp quốc phòng, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, cải cách tổ chức lực lượng, xây dựng lực lượng tác chiến không gian mạng, tác chiến điện tử, trinh sát kỹ thuật, phòng không - không quân, hải quân, cảnh sát biển và các lực lượng bảo vệ chủ quyền trên biển, đảo, biên giới. Đây là thành tựu quan trọng, tạo cơ sở lý luận và thực tiễn cho quá trình xây dựng quân đội hiện đại, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới.

 

Thứ năm, nghiên cứu lý luận về công nghiệp quốc phòng, an ninh và tự chủ chiến lược quốc gia được quan tâm hơn. Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh theo hướng tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại. Đây là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, bởi trong bối cảnh cạnh tranh công nghệ gay gắt, quốc gia nào không làm chủ được một số công nghệ nền tảng, công nghệ lõi, công nghệ quốc phòng trọng yếu sẽ dễ rơi vào thế bị động, phụ thuộc. Nghiên cứu lý luận thời gian qua đã bước đầu làm rõ hơn mối quan hệ giữa công nghiệp quốc phòng với công nghiệp quốc gia; giữa quốc phòng với khoa học - công nghệ; giữa tự chủ vũ khí, trang bị với tự chủ chiến lược quốc gia; giữa phát triển công nghiệp quốc phòng với phát triển kinh tế dân dụng theo hướng lưỡng dụng. Thành tựu này rất quan trọng, bởi nó mở rộng cách tiếp cận quốc phòng từ xây dựng lực lượng quân sự sang xây dựng nền tảng công nghệ, công nghiệp và năng lực đổi mới sáng tạo quốc gia phục vụ bảo vệ Tổ quốc. Quốc phòng trong thời kỳ mới không thể tách rời năng lực công nghệ, dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, tự động hóa, công nghệ không người lái, công nghệ vệ tinh, công nghệ bán dẫn, an ninh mạng và năng lực sản xuất quốc phòng hiện đại.

 

Thứ sáu, công tác tổng kết thực tiễn, bổ sung lý luận về quân sự, quốc phòng được triển khai ngày càng nền nếp hơn. Nhiều vấn đề thực tiễn lớn đã được tổng kết, như xây dựng khu vực phòng thủ; bảo vệ chủ quyền biển, đảo; tham gia gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc; phòng, chống thiên tai, dịch bệnh; xây dựng thế trận lòng dân; kết hợp quốc phòng với phát triển kinh tế - xã hội; xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị; đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong quân đội; bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng. Những tổng kết đó đã cung cấp luận cứ khoa học quan trọng cho việc ban hành chủ trương, nghị quyết, chiến lược, luật pháp, chính sách về quốc phòng, quân sự, bảo vệ Tổ quốc.

 

Các trắc thủ huấn luyện trên xe tác chiến điện tử - Ảnh: báo Cựu Chiến binh Việt Nam/Trần Thông

 

3. Những vấn đề đặt ra trong dự báo, nghiên cứu lý luận về quân sự, quốc phòng

Bên cạnh những thành tựu quan trọng, công tác dự báo, nghiên cứu lý luận về quân sự, quốc phòng trong thời kỳ mới đang đứng trước không ít vấn đề lớn.

 

Một là, môi trường chiến lược biến đổi quá nhanh, trong khi năng lực dự báo có lúc, có mặt chưa theo kịp. Thế giới hiện nay vận động với tốc độ rất cao, tính bất định lớn, nhiều tình huống bất ngờ, phi tuyến tính, khó dự báo. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn không chỉ diễn ra bằng sức mạnh quân sự, mà còn bằng công nghệ, tài chính, truyền thông, dữ liệu, tiêu chuẩn, chuỗi cung ứng và ảnh hưởng xã hội. Các cuộc xung đột gần đây trên thế giới cho thấy ranh giới giữa chiến tranh và hòa bình, giữa tiền tuyến và hậu phương, giữa quân sự và phi quân sự, giữa thực địa và không gian mạng ngày càng mờ đi. Trong khi đó, phương pháp dự báo của chúng ta ở một số nơi vẫn còn thiên về mô tả tình hình, thiếu mô hình phân tích, kịch bản hóa, lượng hóa rủi ro, cảnh báo sớm và đánh giá tác động liên ngành. Đây là điểm nghẽn cần sớm khắc phục.

 

Hai là, một số vấn đề lý luận mới về chiến tranh và bảo vệ Tổ quốc chưa được luận giải đầy đủ. Các khái niệm như chiến tranh nhận thức, chiến tranh dữ liệu, chiến tranh thuật toán, tác chiến đa miền, tác chiến phi tiếp xúc, chủ quyền số, biên giới số, an ninh nền tảng, an ninh chuỗi cung ứng, tự chủ chiến lược công nghệ, sức mạnh mềm quốc phòng, phòng thủ xã hội, sức đề kháng quốc gia… đang đặt ra yêu cầu nghiên cứu sâu hơn. Nếu không kịp thời làm rõ về mặt lý luận, việc hoạch định chiến lược, xây dựng lực lượng, tổ chức thế trận và chuẩn bị nguồn lực có thể bị chậm so với yêu cầu thực tiễn.

 

Ba là, nghiên cứu lý luận về kết hợp quốc phòng với kinh tế, kinh tế với quốc phòng cần được phát triển ở tầm cao hơn. Trong điều kiện phát triển mới, kết hợp kinh tế với quốc phòng không chỉ là bố trí dân cư, hạ tầng, khu kinh tế - quốc phòng ở địa bàn chiến lược, mà còn là tích hợp yêu cầu quốc phòng, an ninh vào quy hoạch phát triển quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch đô thị, hạ tầng số, hạ tầng năng lượng, hạ tầng logistics, hạ tầng dữ liệu và chuỗi cung ứng chiến lược. Cần nghiên cứu sâu hơn mô hình phát triển kinh tế lưỡng dụng, công nghệ lưỡng dụng, công nghiệp quốc phòng lưỡng dụng, doanh nghiệp quốc phòng trong kinh tế thị trường định hướng XHCN và cơ chế huy động nguồn lực xã hội cho quốc phòng trong điều kiện mới.

 

Bốn là, nghiên cứu về xây dựng quân đội hiện đại cần gắn chặt hơn với sự biến đổi của phương thức chiến tranh. Quân đội hiện đại không chỉ hiện đại về vũ khí, trang bị, mà còn phải hiện đại về tổ chức lực lượng, nghệ thuật tác chiến, năng lực chỉ huy - điều hành, dữ liệu chiến trường, trí tuệ nhân tạo, tác chiến điện tử, tác chiến mạng, năng lực liên quân, liên binh chủng, tác chiến trong môi trường đa miền. Điều này đòi hỏi nghiên cứu lý luận quân sự phải đi trước một bước, không chỉ tổng kết kinh nghiệm truyền thống, mà còn phải phân tích sâu các cuộc xung đột hiện đại, dự báo xu hướng chiến tranh tương lai, xác định yêu cầu mới về tổ chức, biên chế, huấn luyện, đào tạo, hậu cần, kỹ thuật và công nghiệp quốc phòng.

 

Năm là, nghiên cứu về “thế trận lòng dân” trong điều kiện truyền thông số và chiến tranh nhận thức cần được nâng lên tầm chiến lược. Trong lịch sử Việt Nam, lòng dân là cội nguồn sức mạnh bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, trong bối cảnh không gian mạng trở thành môi trường đấu tranh tư tưởng, chính trị, tâm lý, văn hóa rất phức tạp, việc xây dựng thế trận lòng dân không chỉ là chăm lo đời sống nhân dân, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, mà còn là xây dựng niềm tin xã hội, năng lực miễn dịch thông tin, sức đề kháng trước các hoạt động thao túng nhận thức, xuyên tạc, kích động, chia rẽ nội bộ. Đây là vấn đề lý luận mới cần được nghiên cứu sâu, gắn giữa quốc phòng, an ninh, truyền thông, văn hóa, giáo dục và quản trị xã hội.

 

Sáu là, đội ngũ nghiên cứu lý luận quân sự, quốc phòng còn cần tiếp tục được nâng cao về năng lực liên ngành, ngoại ngữ, công nghệ và tư duy dự báo. Nghiên cứu quân sự, quốc phòng thời kỳ mới không thể chỉ dựa vào tri thức quân sự truyền thống, mà phải kết hợp với tri thức về địa chính trị, địa kinh tế, công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, luật pháp quốc tế, truyền thông chiến lược, xã hội học, tâm lý học, khoa học dữ liệu và quản trị rủi ro. Vì vậy, cần xây dựng đội ngũ chuyên gia nghiên cứu chiến lược có bản lĩnh chính trị vững vàng, tư duy độc lập, năng lực phân tích liên ngành, khả năng tiếp cận tri thức quốc tế hiện đại và năng lực tham mưu chính sách ở tầm chiến lược.

 

4. Một số định hướng nâng cao chất lượng dự báo, nghiên cứu lý luận về quân sự, quốc phòng

 

Trước hết, cần tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng về bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới, nhất là tư duy bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; giữ nước từ khi nước chưa nguy; kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; giữa quốc phòng, an ninh, đối ngoại với phát triển kinh tế - xã hội. Đây phải là trục tư tưởng chủ đạo của mọi hoạt động nghiên cứu, dự báo, tham mưu chiến lược về quân sự, quốc phòng.

 

Thứ hai, đổi mới mạnh mẽ phương pháp dự báo chiến lược. Cần chuyển từ dự báo tuyến tính, mô tả hiện tượng sang dự báo dựa trên kịch bản, mô hình, dữ liệu, phân tích xu hướng, cảnh báo sớm và đánh giá tác động đa chiều. Cần hình thành hệ thống cơ sở dữ liệu chiến lược về quốc phòng, an ninh, đối ngoại; tăng cường ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, phân tích mạng lưới, mô phỏng tình huống trong nghiên cứu và dự báo. Đồng thời, phải kết hợp chặt chẽ giữa dự báo định tính và định lượng, giữa tri thức chuyên gia và phân tích dữ liệu, giữa nghiên cứu trong nước và tiếp thu có chọn lọc tri thức quốc tế.

 

Thứ ba, tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận mới về chiến tranh tương lai và bảo vệ Tổ quốc trong không gian mới. Cần ưu tiên nghiên cứu tác chiến đa miền, chiến tranh công nghệ cao, chiến tranh mạng, chiến tranh thông tin, chiến tranh nhận thức, tác chiến không người lái, trí tuệ nhân tạo quân sự, an ninh dữ liệu, chủ quyền số, phòng thủ không gian mạng, bảo vệ hạ tầng trọng yếu và sức chống chịu quốc gia. Đây là những lĩnh vực có tác động trực tiếp đến năng lực bảo vệ Tổ quốc trong tương lai.

 

Thứ tư, đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nhất là thực tiễn xây dựng nền quốc phòng toàn dân, khu vực phòng thủ, bảo vệ chủ quyền biển đảo, biên giới, phát triển công nghiệp quốc phòng, xây dựng quân đội hiện đại, tham gia gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc, phòng chống thiên tai, dịch bệnh và xử lý các thách thức an ninh phi truyền thống. Tổng kết thực tiễn phải đi vào bản chất, rút ra quy luật, phát hiện vấn đề mới, không dừng ở mô tả thành tích hoặc kinh nghiệm đơn lẻ.

 

Thứ năm, xây dựng các trung tâm nghiên cứu chiến lược mạnh về quân sự, quốc phòng. Cần có cơ chế liên kết giữa các cơ quan nghiên cứu của quân đội với các viện nghiên cứu, trường đại học, cơ quan đối ngoại, an ninh, kinh tế, khoa học - công nghệ và các chuyên gia trong, ngoài nước. Nghiên cứu lý luận quân sự, quốc phòng phải được đặt trong hệ sinh thái tri thức quốc gia, gắn với đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và yêu cầu xây dựng nền quốc phòng hiện đại.

 

Thứ sáu, quan tâm đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ nghiên cứu lý luận quân sự, quốc phòng chất lượng cao. Cần xây dựng đội ngũ chuyên gia có khả năng nghiên cứu chuyên sâu, tư duy chiến lược, năng lực ngoại ngữ, năng lực công nghệ, khả năng phân tích chính sách và bản lĩnh chính trị vững vàng. Đồng thời, cần có cơ chế trọng dụng chuyên gia, khuyến khích nghiên cứu độc lập, phản biện khoa học, bảo vệ những ý tưởng mới có giá trị, tạo môi trường học thuật nghiêm túc, hiện đại, thực chất.

 

5. Kết luận

 

Trong thời kỳ mới, dự báo và nghiên cứu lý luận về quân sự, quốc phòng có vai trò ngày càng quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Những thành tựu đạt được trong thời gian qua đã góp phần quan trọng vào việc phát triển tư duy lý luận của Đảng về bảo vệ Tổ quốc, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam, phát triển công nghiệp quốc phòng và nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia. Tuy nhiên, trước những biến đổi nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo của tình hình thế giới, khu vực và sự xuất hiện của các hình thái chiến tranh mới, công tác dự báo, nghiên cứu lý luận quân sự, quốc phòng cần tiếp tục đổi mới mạnh mẽ hơn. Tinh thần cốt lõi là phải đi trước một bước trong nhận diện nguy cơ, dự báo xu hướng, phát hiện vấn đề mới, cung cấp luận cứ khoa học cho hoạch định đường lối, chiến lược, chính sách quốc phòng. Nghiên cứu lý luận quân sự, quốc phòng trong thời kỳ mới phải vừa kiên định nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quốc phòng toàn dân của Đảng, vừa chủ động tiếp thu thành tựu tri thức hiện đại, ứng dụng công nghệ mới, phát triển tư duy liên ngành, nâng cao năng lực dự báo chiến lược. Có như vậy, chúng ta mới có thể bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; xây dựng nền quốc phòng toàn dân hiện đại; xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển đất nước phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên CNXH.

 

 PGS,TS. Vũ Văn Hà, Ban thư ký HĐLLTW

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH

1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026

2. Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương- Hội Đồng Lý luận Trung ương, Tài liệu nghiên cứu về những điểm mới, nội dung cốt lõi trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026

3. Nguyễn văn sáu: Thành tựu nổi bật trong lĩnh vực quân sự - quốc phòng qua 40 năm đổi mới đất nước, https://www.qdnd.vn/, ngày 17/2/2026

4. Lê Văn Hướng: Phát triển lý luận về xây dựng tiềm lực quốc phòng trong kỷ nguyên mới, https://tapchiqptd.vn/, ngày 8/1/2025

 



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội 2026, tr.114

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập 2, sđd, tr.204

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 1, sđd tr.54

Tin Liên quan

Góp ý về nội dung bài viết