Chủ Nhật, ngày 13 tháng 06 năm 2021

Một Việt Nam bứt phá sau 35 năm Đổi mới

Ngày phát hành: 27/01/2021 Lượt xem 2119

 Hãng tin Sputnik của Nga vừa phát bài của tác giả Taras Ivanov đánh giá 35 năm Đổi mới của Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Bài viết mô tả một Việt Nam “bứt phá” với những thành tựu trong các lĩnh vực kinh tế, công nghệ, y tế, giáo dục, quân sự và ngoại giao , đồng thời lý giải "bí quyết" để Việt Nam phát triển như ngày nay từ một nước nghèo cách đây 35 năm.

 


 Đổi mới - chìa khóa mở ra vận hội mới
 Đường lối “Đổi mới” do Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 12/1986) đưa ra và được các Đại hội sau tiếp tục hoàn thiện và phát triển đã mở ra bước ngoặt trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ đất nước. Mục đích của Đổi mới là tìm kiếm con đường đi lên chủ nghĩa xã hội phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện của Việt Nam, với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
 Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới, sự phát triển của Việt Nam trong 35 năm qua rất đáng ngưỡng mộ. Những cải cách kinh tế và chính trị trong thời kỳ Đổi mới đã thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh chóng, biến Việt Nam từ một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới thành một quốc gia có thu nhập trung bình thấp.
 Trong giai đoạn 2002-2018, GDP bình quân đầu người của Việt Nam đã tăng 2,7 lần, đạt trên 2.700 USD vào năm 2019. Cùng với đó, đã có hơn 45 triệu người Việt Nam thoát nghèo; tỷ lệ đói nghèo giảm mạnh từ hơn 70% xuống dưới 6%.
 Năm 2019, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục thể hiện sức mạnh và khả năng phục hồi nhanh chóng nhờ nhu cầu tiêu dùng mạnh mẽ trong nước và định hướng xuất khẩu trong sản xuất. GDP thực tế của Việt Nam đã tăng 7% vào năm 2019. Đây là một trong những quốc gia có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất trong khu vực.
 Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng với nền kinh tế toàn cầu, nền kinh tế Việt Nam tuy chịu nhiều tác động nặng nề từ đại dịch COVID-19, nhưng đã thể hiện được khả năng phục hồi mạnh mẽ. Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới, tác động của COVID-19 ở Việt Nam không nghiêm trọng như các nước khác do quốc gia này đã nhanh chóng áp dụng các biện pháp chủ động ở cấp quốc gia và địa phương. Khuôn khổ kinh tế vĩ mô và tài khóa vẫn được duy trì ổn định với tốc độ tăng trưởng GDP năm 2020 đạt 2,91%. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: “Năm 2020 vẫn được xem là năm thành công hơn năm 2019 và là năm thành công nhất trong 5 năm qua”. Việt Nam đã đạt được những kết quả vượt bậc, trong khi cả thế giới tăng trưởng âm thì Việt Nam vẫn tăng trưởng dương với mức 2,91%, tất cả các cán cân lớn đều được đảm bảo.
 Việt Nam là một trong số ít quốc gia trên thế giới không rơi vào suy thoái kinh tế, mặc dù tốc độ tăng trưởng của quốc gia này năm 2020 thấp hơn nhiều so với mức dự báo 6-7% trước đại dịch. Tuy nhiên, COVID-19 cũng không thể ngăn cản kinh tế Việt Nam đạt được những kết quả ngoạn mục. Phát biểu tại Hội nghị tổng kết công tác của Ban Kinh tế Trung ương năm 2020 vừa qua, Phó trưởng Ban Kinh tế Trung ương, ông Nguyễn Hữu Nghĩa, cho biết: “Những thành tích đạt được của Ban Kinh tế Trung ương đã góp phần quan trọng vào thành tựu phát triển kinh tế-xã hội, tăng trưởng kinh tế cao (bình quân 6%/năm), quy mô nền kinh tế tăng 1,4 lần, năng suất lao động tăng cao (bình quân 5,8%/năm), kinh tế vĩ mô ổn định vững chắc hơn; môi trường kinh doanh cải thiện, thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hoàn thiện một bước quan trọng, huy động được nguồn lực lớn cho đầu tư phát triển”.
Đối với tổng thể vốn đầu tư toàn xã hội, đầu tư công vẫn chiếm tỷ trọng lớn và là động lực quan trọng góp phần thúc đẩy tăng trưởng và chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế Việt Nam xuyên suốt 35 năm Đổi mới. Trong 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011-2020 được đề ra tại Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam, cơ cấu đầu tư công trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội đang có xu hướng giảm dần theo hướng phù hợp với kinh tế thị trường và bối cảnh khu vực tư nhân ngày càng lớn mạnh cũng như khu vực đầu tư nước ngoài ngày càng quan trọng. Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu và quản lý kinh tế trung ương, PGS.TS. Trần Kim Chung cho biết: “Tỷ trọng vốn đầu tư công trong tổng đầu tư toàn xã hội trong 10 năm qua giảm từ 39,04% giai đoạn 2011-2015 xuống còn 31-34% giai đoạn 2016-2020. Trong khi đó, hiệu quả kinh tế - xã hội của đầu tư nói chung và đầu tư công nói riêng liên tục được cải thiện, hệ số sử dụng vốn đầu tư (ICOR) giai đoạn 2016-2020 ước khoảng 6,11, cao hơn so với mức gần 6,29 của giai đoạn 2011-2015”.

 

 


 Chuyển đổi số - chất xúc tác cho nền kinh tế Việt Nam
 Sự ra đời của công nghệ thông tin và Internet đã thay đổi cách thức vận hành của cả thế giới, và lĩnh vực kinh tế cũng không phải ngoại lệ. Là một quốc gia đang phát triển, Việt Nam ý thức rõ “chuyển đổi số” đóng vai trò quan trọng như thế nào đối với nền kinh tế sau 35 năm Đổi mới.
 Cuối năm 2019, Chính phủ Việt Nam và Bộ Thông tin và Truyền thông đã xác định năm 2020 là năm chuyển đổi số quốc gia. Trước tác động mạnh và bất ngờ từ COVID-19, tiến trình chuyển đổi số có cơ hội được đẩy mạnh hơn. Trong chiến lược chuyển đổi số của Việt Nam, con người luôn là nhân tố được đặt ở vị trí trung tâm. Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã nhiều lần khẳng định mạnh mẽ rằng 2020 là năm khởi động tiến trình hướng tới một “Việt Nam số”. Tại lễ khởi công Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc gia và khai trương Triển lãm quốc tế đổi mới sáng tạo Việt Nam 2021 ngày 9/1/2021 vừa qua, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh: “Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu của Việt Nam những năm gần đây được cải thiện liên tục, tăng 10 bậc từ năm 2015, đứng thứ 42/131 quốc gia, vùng lãnh thổ; đứng đầu nhóm 29 quốc gia, nền kinh tế cùng mức thu nhập. Đây là nền tảng quan trọng, là bệ phóng cho sắp tới”.
 Trong vòng 7 năm (2014-2020), Việt Nam đã tiến 29 bậc, từ vị trí 71 lên vị trí 42/131 quốc gia/nền kinh tế trong bảng xếp hạng Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) do Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) công bố. Đặc biệt, sự xuất hiện của đại dịch COVID-19 đã cho thấy sự chuyển đổi linh hoạt của người Việt nói chung và doanh nghiệp Việt nói riêng.


 Đẩy mạnh áp dụng khoa học-công nghệ vào y tế
 Giai đoạn 35 năm (1986-2021) đánh dấu những tiến bộ vượt bậc của ngành y tế Việt Nam, không chỉ trong công tác nghiên cứu mà còn trong phát triển và ứng dụng công nghệ. Những thành tựu mà ngành y tế Việt Nam đặt được trong thời gian qua đã gây tiếng vang lớn trên thế giới như sản xuất vaccine phòng bệnh, ghép tạng…
 Việt Nam rất tự hào khi là một trong số ít các quốc gia kiểm soát, ngăn ngừa thành công nhiều dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm như SARS, cúm A/H7N9,... và gần đây nhất là dịch COVID-19. Chiến thắng trước COVID-19 của Việt Nam được đánh giá là một hiện tượng của thế giới. Có được chiến thắng này phải kể đến sự đồng tâm, đồng lòng của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân Việt Nam. Phát biểu trong một phiên họp Quốc hội vào giữa năm 2020, Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam nhấn mạnh: “Tất cả cuộc sống của người Việt Nam hôm nay là niềm mơ ước của nhiều nước trên thế giới. Chúng ta có được thành công đó là nhờ sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị. Chúng ta có đội ngũ thầy thuốc, lực lượng quân đội nhân dân, công an nhân dân và nhiều lực lượng chức năng khác, nhưng đặc biệt là nhân dân Việt Nam rất tuyệt vời!”
 COVID-19 là “cú hích” mang lại nhiều thay đổi cho nền y tế Việt Nam. Ngay trong công tác phòng chống COVID-19, các ứng dụng công nghệ đã được áp dụng triệt để như ứng dụng truy vết Bluezone hay việc sử dụng các mạng xã hội như Facebook, Zalo… để tuyên truyền về cách thức phòng chống dịch bệnh.
 Tất cả các hoạt động trên được triển khai trong khuôn khổ Chương trình Chuyển đổi số quốc gia mà Thủ tướng Chính phủ ban hành tháng 6/2020. Trong đó, y tế được xếp ở vị trí đầu tiên. Đây là lĩnh vực liên quan đến nhiều người dân nhất, độ bao phủ rộng khắp nhất, và là nền tảng của một quốc gia phát triển. Cũng vì thế, đây sẽ là lĩnh vực nơi chuyển đổi số phát huy được hiệu quả lớn nhất. Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Mạnh Hùng nói: “Bộ Thông tin và Truyền thông cam kết đồng hành cùng Bộ Y tế trong hành trình Chuyển đổi số. Bộ Y tế hãy giao nhiệm vụ cho Bộ Thông tin và Truyền thông chỉ đạo các doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam đưa công nghệ số vào mọi ngóc ngách của lĩnh vực y tế. Việt Nam có lực lượng doanh nghiệp công nghệ số hùng hậu, với gần 60.000 doanh nghiệp và trên 1 triệu lao động, sẵn sàng giải được hầu hết các bài toán của ngành y tế”.
 Từ năm 1993 đến năm 2017, tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh giảm từ 32,6 xuống còn 16,7 (trên 1.000 trẻ). Từ năm 1990 đến năm 2016, tuổi thọ trung bình đã tăng từ 70,5 lên 76,3 tuổi và là mức cao nhất trong các quốc gia có mức thu nhập tương tự trong khu vực. Chỉ số bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân của Việt Nam ở mức 73 - cao hơn mức trung bình của khu vực và toàn cầu - với 87% dân số được bao phủ. Trong suốt 35 năm qua, sức khỏe của người dân Việt Nam đã được cải thiện đáng kể, mức sống cũng ngày càng được nâng cao.

 


 Giáo dục - cốt lõi của phát triển
 Nhìn lại hành trình 35 năm đổi mới giáo dục và đào tạo, ngành giáo dục Việt Nam đã có nhiều thay đổi, phát triển cả về quy mô lẫn chất lượng.
 Theo số liệu của Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam, Việt Nam đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học vào năm 2000; hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi mức độ I năm 2014; hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở vào năm 2010. Chất lượng giáo dục của Việt Nam ngày càng được nâng cao. Giáo dục tiểu học của Việt Nam đứng đầu khu vực Đông Nam Á. Trong 6 nước tham gia Chương trình Đánh giá kết quả học tập của học sinh tiểu học các nước Đông Nam Á (SEA PLM) năm 2019, gồm Việt Nam, Lào, Campuchia, Malaysia, Myanmar và Philippines, học sinh tiểu học Việt Nam đứng đầu ở cả 3 năng lực được khảo sát gồm đọc hiểu, viết và toán học. Nhận xét về kết của Việt Nam trong SEA PLM, Giám đốc Chương trình Giáo dục của UNICEF tại Việt Nam, Simone Vis cho biết bà rất ấn tượng với thành tích này: “Kết quả của Việt Nam vượt trội hơn hẳn các nước cùng tham gia kỳ đánh giá. Tôi rất ấn tượng và tự hào với thành tích đó. Nhìn chung, chất lượng giáo dục tiểu học của Việt Nam trong những năm qua đã có nhiều tiến bộ, không chỉ trong khu vực mà trên trường quốc tế”.
 Trước tình hình dịch COVID-19 bùng phát vào đầu tháng 2/2020, Việt Nam cũng hoàn thành “mục tiêu kép” là vừa học tập an toàn, vừa chống đại dịch. Xác định chủ trương “tạm dừng đến trường, không ngừng việc học”, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành các văn bản chỉ đạo các sở giáo dục và đạo tạo, các cơ sở giáo dục đại học tăng cường các hình thức dạy học qua Internet và truyền hình. Đây là lần đầu tiên việc dạy học trực tuyến được triển khai rộng rãi trên phạm vi toàn quốc. Kết quả dạy học trực tuyến của Việt Nam được các tổ chức trong nước và quốc tế đánh giá rất tích cực. Báo cáo Đánh giá học sinh quốc tế (PISA) do Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) công bố ngày 29/9/2020 nhận xét: “Việc học trực tuyến để phòng chống COVID-19 của Việt Nam có nhiều điểm khả quan so với các quốc gia và vùng lãnh thổ khác”.
 Cụ thể, Việt Nam có 79,7% học sinh được học trực tuyến. Tỷ lệ này cao hơn mức trung bình chung của các nước OECD (67,5%). Ở bậc đại học, trên 50% cơ sở giáo dục cũng dạy học từ xa, trong đó nhiều trường áp dụng trực tuyến hoàn toàn, một số cơ sở kết hợp giữa đào tạo trực tuyến và trực tiếp. Dạy học trực tuyến đã giúp rút ngắn thời gian thực dạy khi học sinh trở lại trường học; tăng cường sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong việc giáo dục học sinh. Hình thức dạy học này cũng giúp giáo viên, học sinh làm quen và tăng cường hơn nữa các kỹ năng công nghệ thông tin, thích ứng với những hình thức học tập mới của giáo dục tiên tiến trong thời đại công nghệ 4.0.
 Kết quả của ngành giáo dục và đào tạo trong dạy học an toàn trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19 được Quốc hội và Chính phủ đánh giá cao. Tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc ngành giáo dục năm 2020, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đã gọi đây là “kết quả nổi bật” của ngành.

 

Bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền quốc gia, chung tay gìn giữ hoà bình thế giới
Sau 35 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng - an ninh, Việt Nam đã đạt được rất nhiều thành tựu nổi bật. Thành tựu đầu tiên là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và lợi ích quốc gia-dân tộc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững ổn định chính trị, môi trường hoà bình để xây dựng và phát triển đất nước.
Có thể nói kết quả này khẳng định đường lối đổi mới của Đảng - trong đó có đổi mới về quân sự, quốc phòng - là đúng đắn, sáng tạo và phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam. Phát biểu tại Hội nghị Quân chính toàn quân, một hội nghị quan trọng tổng kết công tác năm 2020 và bàn thảo các biện pháp nhằm tiếp tục thực hiện nhiệm vụ năm 2021. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã thực hiện tốt chức năng tham mưu với Đảng, Nhà nước về quân sự, quốc phòng; thường xuyên nắm chắc tình hình, nhạy bén trong công tác nghiên cứu, dự báo, kịp thời đề xuất các chủ trương, đối sách đúng đắn, xử lý hiệu quả các tình huống, không để bị động, bất ngờ. Chủ động tham mưu bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo và hoạt động kinh tế biển; phối hợp chặt chẽ với các ban, bộ, ngành Trung ương và các địa phương triển khai thực hiện có hiệu quả các nghị quyết, kết luận của Bộ Chính trị về chiến lược quân sự, quốc phòng... Trước tình hình thiên tai, đại dịch COVID-19 diễn biến hết sức phức tạp, Bộ Quốc phòng đã chỉ đạo toàn quân chủ động xây dựng kế hoạch, phương án, chuẩn bị lực lượng, phương tiện, phối hợp chặt chẽ với các cấp, các ngành, các địa phương ứng phó kịp thời với các tình huống”.
Nền quốc phòng toàn dân của Việt Nam đang trở nên ngày càng vững mạnh, toàn diện; đã có được những bước phát triển mới cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; từ đó phát huy được tiềm lực quốc phòng - an ninh của đất nước. Hội nghị Giới thiệu trưng bày sản phẩm quốc phòng và kinh tế 2020 do Tổng cục Công nghiệp quốc phòng Việt Nam nghiên cứu, sản xuất vừa qua đã hé lộ nhiều loại vũ khí tối tân mà Quân đội nhân dân Việt Nam đang sở hữu.
Đưa công nghiệp quốc phòng trở thành mũi nhọn công nghiệp quốc gia là điều mà lãnh đạo Bộ Quốc phòng Việt Nam nhấn mạnh tại hội nghị trên. Phát biểu tại buổi lễ, Đại tướng Ngô Xuân Lịch, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng nhấn mạnh Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng cần hoàn thành chức năng, nhiệm vụ được giao. Đại tướng nói: “Cần đẩy mạnh ứng dụng thành tựu, tiến bộ khoa học công nghệ; đi sâu vào các công nghệ mũi nhọn trong nghiên cứu, chế tạo, sản xuất các sản phẩm, quan tâm đầu tư phát triển công nghệ nền tảng, công nghệ lõi, công nghệ vật liệu để chủ động trong sản xuất; bảo đảm các sản phẩm quốc phòng có chất lượng, đa dạng, lưỡng dụng và tính cạnh tranh cao trên thị trường”.
Theo báo cáo về năng lực nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, sản xuất vũ khí, trang thiết bị kỹ thuật và sản phẩm lưỡng dụng của Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng, Việt Nam cũng đã tự sản xuất nhiều loại thiết bị, vũ khí. Không chỉ dừng lại ở đó, Việt Nam cũng đã tự sản xuất thành công nhiều tàu quân sự. Đặc biệt, theo báo cáo của Tổng cục, với năng lực đã được đầu tư, các đơn vị đóng tàu quân sự hiện có khả năng đóng mới các tàu tên lửa thế hệ mới, tàu chống ngầm, tàu mặt nước cho lực lượng Hải quân, Biên phòng, Cảnh sát biển, và Kiểm ngư; sửa chữa cấp vừa cho tàu ngầm Kilo 636; cải hoán, hiện đại hoá, sửa chữa lớn và đảm bảo kỹ thuật cho tàu hộ vệ tên lửa, tàu chống ngầm và các loại tàu mặt nước cho lực lượng chiến đấu và thực thi pháp luật trên biển.
Ngoài năng lực tự sản xuất và cung cấp một số thiết bị, vũ khí cho lực lượng quân đội, Việt Nam còn xuất khẩu các tàu ra nhiều nước, như tàu cung ứng thuyền viên cho Tập đoàn DAMEN (Hà Lan), tàu cứu hộ tàu ngầm và tàu chở dầu cho Hải quân Australia, tàu đánh bắt cá ngừ đại dương cho Pháp, tàu công trình, tàu huấn luyện máy bay, du thuyền, tàu kéo cảng và nhiều sản phẩm khác. Những năm gần đây, doanh thu từ sản phẩm kinh tế chiếm tỷ trọng bình quân trên 60% tổng doanh thu toàn Tổng cục, đạt mức tăng trưởng bình quân 10%/năm.
Năm 2013, Trung tâm Gìn giữ hoà bình Việt Nam chính thức được thành lập. Năm 2014, hai sĩ quan Việt Nam đầu tiên tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc được cử tới Phái bộ Nam Sudan với vai trò sĩ quan liên lạc. Từ năm 2014 đến nay, Việt Nam đã tham gia lực lượng này theo hình thức cá nhân và đơn vị. Đối với hình thức cá nhân, Việt Nam đã cử 50 lượt sĩ quan tới hai phái bộ là Cộng hoà Trung Phi, Nam Sudan và trụ sở Liên hợp quốc. Đối với hình thức đơn vị, Việt Nam đã cử hai bệnh viện dã chiến cấp 2, với 126 sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp tham gia. Ngoài vai trò quan sát viên quân sự, Việt Nam cũng tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc trong lĩnh vực tham mưu, hậu cần và quân y. Hiện nay, Liên hợp quốc tiếp tục đề nghị Việt Nam cử thêm lực lượng và mở rộng sự hiện diện của mình trong các vai trò khác như công binh, cảnh sát, quan sát viên và giám sát bầu cử.
 Cùng với việc thực hiện tốt các hoạt động chuyên môn theo nhiệm vụ được giao, các sĩ quan “mũ nồi xanh” của Việt Nam còn tích cực tham gia công tác dân vận như dạy học, hướng dẫn người dân bản xứ trồng rau xanh, hướng dẫn các bà mẹ chăm sóc trẻ nhỏ đúng cách, may khẩu trang phòng, chống dịch COVID-19 tặng đồng đội và người dân địa phương..., tạo ấn tượng tốt đẹp về bộ đội Cụ Hồ, đất nước và con người Việt Nam.
 Theo Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam, lực lượng “mũ nồi xanh” của Quân đội nhân dân Việt Nam luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và đảm bảo an toàn tuyệt đối. Thượng tướng khẳng định: Đây là những kết quả thiết thực, cụ thể của lực lượng Việt Nam tham gia các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, góp phần vào việc hiện thực hoá kế sách bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa mà Đảng, Nhà nước và Quân đội đã xác định và đang triển khai thực hiện. Qua đó góp phần khẳng định vị thế, uy tín, từng bước hình thành yếu tố “quyền lực mềm” trên trường quốc tế; chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; phát hiện sớm và xử lý kịp thời những nhân tố bất lợi.
Tháng 6/2018, Liên hợp quốc đã công nhận Cục gìn giữ hòa bình Việt Nam là một trong bốn trung tâm huấn luyện quốc tế ở khu vực để triển khai huấn luyện theo Chương trình đối tác 3 bên. Trong 3 năm (2018-2020), Việt Nam đã chủ trì 3 khoá huấn luyện cho nhiều sĩ quan trong nước và quốc tế về vận hành trang bị công binh hạng nặng. Đây là một trong những thành tựu ấn tượng, khẳng định uy tín và vị thế Việt Nam trên trường quốc tế.

 


Tăng cường đa phương hoá, chủ động hội nhập quốc tế
Trong sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng, ngoại giao Việt Nam được trao sứ mệnh hoàn toàn mới - góp phần quan trọng vào việc tạo dựng và giữ vững môi trường hoà bình, ổn định, bảo vệ vững chắc Tổ quốc; linh hoạt, sáng tạo tìm ra phương cách mới thúc đẩy hợp tác quốc tế, tạo mọi điều kiện quốc tế thuận lợi để xây dựng và phát triển đất nước, góp phần quan trọng nâng cao thế và lực cho đất nước.
Theo Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, trong cuộc chiến chống đại dịch, ngành ngoại giao đã triển khai tốt “ngoại giao COVID-19” và “ngoại giao trực tuyến”. Kết quả là, từ tháng 2/2020 đến nay, Việt Nam đã tổ chức được 30 hội nghị cấp cao trực tuyến và các cuộc điện đàm với lãnh đạo các nước và các tổ chức quốc tế lớn. Bộ Ngoại giao cũng đã phối hợp tổ chức nhiều chuyến bay để đón về nước gần 30.000 công dân Việt Nam từ các quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề của COVID-19. Công tác đối ngoại cũng đã phát huy tinh thần đoàn kết quốc tế trong phòng chống dịch, hỗ trợ trang thiết bị y tế do Việt Nam sản xuất cho nhiều quốc gia.
Công tác ngoại giao đã giúp Việt Nam phá vỡ mọi rào cản và đưa Việt Nam đến gần với thế giới. Hiện nay, Việt Nam đã trở thành mắt xích quan trọng trong nhiều liên kết kinh tế khu vực và toàn cầu, tham gia nhiều thỏa thuận thương mại tự do quan trọng như Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Hiệp định thương mại tự do Việt Nam-Liên minh châu Âu (EVFTA), qua đó tạo ra động lực mới cho phát triển.
Từ chỗ chỉ là bên tham gia, Việt Nam đã mạnh dạn và chủ động định hình cấu trúc và luật chơi mới trong và ngoài khu vực. Với vai trò Chủ tịch Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) 2020, Việt Nam đã chuẩn bị kỹ lưỡng Nghị quyết về hợp tác ASEAN - Liên hợp quốc. Sự chuẩn bị chu đáo được tiến hành song song với công tác đàm phán, vận động và đã nhận được sự ủng hộ rất lớn. Nghị quyết do Việt Nam chuẩn bị đã đạt 3 kỷ lục: thời gian thương lượng ngắn nhất, thời gian vận động ngắn nhất và số nước đồng bảo trợ đông nhất so với các nghị quyết hợp tác giữa ASEAN và Liên hợp quốc từ trước đến nay (110 quốc gia). Điều này khẳng định uy tín ngày càng cao của Việt Nam trong cộng đồng quốc tế.
Theo đánh giá của Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh, một trong những thành tựu đáng ghi nhận của ngành ngoại giao Việt Nam là công tác quảng bá hình ảnh đất nước ra thế giới tiếp tục được triển khai. Không để đại dịch COVID-19 cản trở, lực lượng báo chí đối ngoại Việt Nam đã nhanh chóng tận dụng lợi thế của nền tảng số, tăng cường quảng bá hình ảnh của đất nước ra nước ngoài. Phương thức mới này đã đạt được kết quả vượt xa các phương thức cũ.
Việt Nam cũng đã đưa vấn đề Biển Đông ra các hội nghị quốc tế và ASEAN và nhận được sự ủng hộ, nhất trí trong và ngoài khu vực. Song song với đó, Việt Nam vẫn tiếp tục các hoạt động kinh tế bình thường ở những vùng biển hợp pháp trong phạm vi vùng đặc quyền kinh tế của mình. Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh cho biết: “Năm 2020, tình hình tiếp tục diễn biến phức tạp với nhiều yếu tố bất ổn định. Tuy nhiên, Việt Nam tiếp tục duy trì được môi trường ổn định ở Biển Đông thông qua nhiều biện pháp, trong đó có các biện pháp liên quan đến quan hệ song phương với các nước. Tại tất cả các cuộc trao đổi lãnh đạo cấp cao với các nước cũng như tiếp xúc của các cấp, vấn đề Biển Đông luôn được Việt Nam nêu với mục tiêu, yêu cầu đảm bảo được môi trường hoà bình và ổn định, tôn trọng luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 (UNCLOS 1982), không có các hành động làm phức tạp tình hình tại vùng biển này”.
Trong giai đoạn sắp tới, các hoạt động đối ngoại đa phương sẽ tập trung vào việc giúp Việt Nam đảm nhận vai trò lớn hơn ở mọi phương diện trong ASEAN và Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc; tham gia định hình cấu trúc, cơ chế, luật chơi mới; tạo sự liên kết sâu rộng về kinh tế, gắn với chuyển đổi số và phát triển bền vững; thực hiện các cam kết quan trọng trong Tầm nhìn ASEAN 2025 và sau 2025, Tầm nhìn APEC 2040, Chương trình nghị sự đến năm 2030 của Liên hợp quốc về phát triển bền vững, Hiệp định Paris về chống biến đổi khí hậu và các thỏa thuận thương mại tự do.
Đối với một quốc gia, 35 năm không phải là một quãng thời gian dài - nhưng đối với Việt Nam, đó là cả một quá trình đổi mới và chuyển mình lịch sử. Từ một quốc gia nghèo nhất thế giới, Việt Nam đã khẳng định vị thế mới trên trường quốc tế, trở thành thành viên tích cực của hơn 70 tổ chức khu vực và quốc tế, và thiết lập quan hệ với hơn 500 tổ chức phi chính phủ. Với những thành tựu trong 35 năm qua, một đất nước Việt Nam đổi mới, năng động và liên tục phát triển sẽ trở thành điểm sáng trên bản đồ thế giới./.

 

Theo TTXVN

Tin Liên quan

Góp ý về nội dung bài viết